CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIEC CHO NGUOI LAO DONG 1. MOT SO KHAI NIEM LIEN QUAN. Định nghĩa động lực lao động “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [3] “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ” [15, tr.9] Căn cứ vào định nghĩa có thể nhận thấy động lực là nhân tố thiết thực tạo ra lý do NLĐ làm việc hãng say, hiệu quả.
Động lực góp phần thúc đẩy NLĐ làm việc cố gắn phần đấu và phát huy tối đa khả năng nhằm đạt năng suất lao. động cao nhất. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng st và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao.
Động lực có thể ở dạng có ý thức (khi trả lời được câu hỏi tại sao con người lại làm như vậy) hay vô thức (do bản năng, tính cách). Động lực là sự thôi thúc khiến người ta hành động vì thế nó có một ảnh hưởng rất mạnh mẽ, ảnh hưởng này có thể tốt hoặc xấu. Một yếu tố tạo động lực sẽ khơi dậy và định hướng hành động. Điều này có nghĩa là khi một người được tạo động lực, họ sẽ bị thôi thúc va hành động theo một cách thức nào đó để đạt được mục đích.
Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tắt yếu dẫn đến năng suất 10 và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào. động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đôi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Nhu cầu và lợi ích “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng cúa con người về vật chất và tỉnh thân để tôn tại và phát triển "3]- Nhu cầu gắn liền liền với sự tồn tại và phát triển của con người, cộng đồng và xã hội.
Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi, phức tạp nhưng cơ bản chia thành 3 nhóm chính: nhu cầu vật chất, nhu cầu tỉnh thần và nhu cầu xã hội. Nhu cầu mỗi người là khác nhau tùy quan điểm từng cá nhân, NLD cũng như vậy khi nhu cầu chưa được thỏa mãn sẽ tạo ra tâm lý căng thẳng đòi hỏi NLĐ phải tìm cách để thỏa mãn các mong muốn. “Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong những điều kiện cụ thể nhắt định. Lợi ích càng lớn thể hiện mức độ thỏa mãn như câu càng cao, động lực càng được tạo ra "[3] “Theo khái niệm trên thì lợi ích được hiểu là thành quả mà người lao động.
nhận được bằng vật chat hay tinh than. Loi ich có vai trò to lớn trong hoạt động lao động của con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con người. Động cơ “Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi đậy lòng nhiệt tình và kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định " [I, tr.201] Mỗi con người khác nhau thì động cơ lao động của họ cũng khác nhau. Tùy từng NLĐ, những NLD có động cơ lao động cao thường nổ lực và có gắn i nhiéu hon nhimg NLD khác trong công việc đảm nhận.
Kết quả là thành quả lao động đạt được sẽ cao hơn những người có động cơ thấp hơn.4 Tạo động lực lao động. “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao. động có động lực trong làm việc" [3, tr89-90] Căn cứ khái niệm về tạo động lực lao động, nhà quản trị muốn tạo động, lực cho NLĐ trước tiên nắm bắt nhu cầu của NLĐ. Biết được nhân viên mình.
làm việc vì mục tiêu, lý tưởng ¡g, từ đó thúc đẩy động lực lao động của họ. Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động. Như vậy tạo động lực lao động. chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình 1.
CAC HQC THUYET VE DONG CO THUC DAY 1. Học thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow “Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng nên là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân. Ông nhấn mạnh rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tổn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu, thứ tự từ thấp tới cao”: 12 Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực tập II ( 2009) Tr. 158) “Nhu cdu sinh lý: Ở vị trí thấp nhất trong hệ thống.
Đây là những nhu cầu mà con người luôn cố gắng để thỏa mãn trước tiên. Nếu như chúng ta đang phải chống chọi với cái đói hoặc có những nhu cầu cơ bản như không. khí để thở, giấc ngủ và nước uống.chúng ta sẽ nghĩ tới việc thỏa mãn những. nhu cầu này.
Khi đó mọi nhu cầu khác sẽ bi đẩy xuống hàng thứ yếu. “Nhu edu an toàn: Đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn. Ở mức nhu cầu này con người sẽ có những phản ứng lại rới những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân, người lao. động sẽ không thích làm việc trong những điều kiện nguy hiểm mà thích được lâm việc trong điều kiện an toàn”.
*Như câu xã hội: Khi đã thỏa mãn các nhu cầu sinh lý, được an toàn thì ngay lập tức nảy sinh cap độ tiếp theo của nhu cầu. Các nhu cầu “xã hội” hay tỉnh cảm lúc đó sẽ trở lên quan trọng, đó là nhu cầu được yêu thương, có tình 13 bạn và được là thành viên của một tập thể nào đó”. “Nhu cdu duge t6n trong: Nhu cầu này bao gồm cả việc cần hay mong. muốn có được giá trị cao cả của tự động hoặc kích thích và tôn trọng của người khác.
Maslow đã chia ra làm hai loại: Các loại mong muốn về sức mạnh, sự đạt được, lòng tin đối với mọi người, đối với độc lập, tự do. Loại có mong muốn về thanh danh, uy tin, địa vị, thống trị, được chú ý, được thể hiện minh”. *Nhu câu tự hoàn thiện mình: Ông cho rằng mặc dù tắt cả các nhu cầu trên được thỏa mãn, chúng ta vẫn cảm thấy sự bất mãn mới và sự lo lắng sẽ xuất hiện, từ khi các nhu cầu cá nhân đang làm những công việc mà phủ hợp. với mình ” Maslow đã khẳng định: + “Mỗi cá nhân NLĐ có hệ thống nhu cầu khác nhau và nó được thỏa mãn bằng những cách, những phương tiện khác nhau”.
+ “VỀ nguyên tắc con người cần được thỏa mãn nhu cầu ở bậc thấp hơn trước khi được khuyến khích thỏa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn”. + “Người quản lý cẩn phải quan tâm đến các nhu cầu của NLĐ. biện pháp để thỏa mãn nhu cầu đó một cách hợp lý. Như vậy, về nguyên tắc các nhà quản lý cần biết được NLĐ của mình đang ở nắc thang nhu cầu nào.
để từ đó biết cách tác động nhằm tạo ra động lực lao động cao nhất”. Học thuyết hệ thống hai yếu tố của F. Theo Frederick HerZberg, nhà tâm lý hoc người Mỹ đãphân ra làm hai yếu tố có tác dụng tạo động lực: Nhóm yếu tố thúc đây: Các yếu tố thúc đây là các yếu tố thuộc bên trong công việc. Đó là các nhân tố tạo nên sự thỏa mãn, sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản thân công việc của người lao động, trách nhiệm và chức năng lao động, sự thăng tiến.
Đây chính là 5 nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc. Đặc điểm của nhóm này. 14 là nếu không được thỏa mãn thì dẫn đến bắt mãn, nêu được thỏa mãn thì sẽ có tác dụng tạo động lực. Nhóm yếu tố duy trì: Đó là các yếu tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động, các chính sách chế độ quản trị của Doanh.
nghiệp, tiền lương, sự hướng dẫn công việc, các quan hệ với con người, các điều kiện làm việc. Các yếu tố nảy khi được tổ chức tốt thí có tác dụng ngăn. ngừa sự không thỏa mãn đối với công việc của người lao déng. Herzberg cho rằng 5 yếu tố tiêu biêu mang lại “sự thõa mãn trong công việc” là: Thành đạt: sự thỏa mãn của bản thân khi hoàn thành một công việc, giải quyết một vấn đề và nhìn thấy những thành quả từ nỗ lực của mình.
(Con người được động. viên khi anh ta có khả năng thực hiện được những ý định của mình.) Bản thân công việc: những ảnh hưởng tích cực từ công việc lên mỗi người. Chẳng hạn, một công việc có thể thú vị, đa dạng, áng tạo và thách thức. Sự thừa nhận: Sự ghi nhận việc hoàn thành tốt một công việc.
Điều này có thể được tạo ra từ bản thân từng cá nhân hoặc sự đánh giá của mọi người.Học thuyết tăng cường tích cực của B. Skinner Ông cho rằng những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng được lặp lại, những hành vi không được thưởng hoặc bị phạt thì có xu hướng không lặp lại. Có ba loại hành vi tăng cường mà người lãnh đạo, quản lý có thể thực hiện để tạo động lực cho người lao động đó là: Khen thưởng nhân viên (tăng cường, đương tính): người lãnh đạo, quản lý khuyến khích nhân viên làm lại những gì mà anh ta làm tốt trước đó. Phần thưởng có thẻ là những lời khen ngợi, bằng tiền hoặc bằng những quyết định khen thưởng, đề bạt.