Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện nhằm tạo động lực cho người lao động tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum. 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC CHO NGUOI LAO DONG TRONG DOANH NGHIEP 1.
KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỌNG LỰC 1. Nhú cầu *Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tỉnh thần Sn tại và phát triển” [15, tr88] Nhu cầu của con người thường đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, có phân chia nhu cẩu thành hai loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần. Nhu cầu vật chất là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất cần thiết để con người tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trường nhất định.
Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu vật chất của con người được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Nhu cầu tinh thần là những yếu tố làm thỏa mãn về mặt tâm lý, tạo những điều kiện để con người phát triển về mặt trí lực, tạo ra tâm ý thoải mái trong quá trình lao động. Nhu cầu là yếu tố thúc đây con người hoạt động. Nhu cầu cảng cắp thiết thì khả năng chỉ phối con người càng cao.
Về mặt quản lý, nắm bắt được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp nảy, nhận thức có sự chỉ phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự. thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân đa dạng và vô tận, tuy nhiên người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý để đạt được mục tiêu của.
Như vậy, đặc trưng cơ bản của nhu cầu là trạng thái thiếu hụt của cơ thể " cần phải được bù đắp đề tồn tại và phát triển bình thường. “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tỉnh thần do công việc đó tạo ra” [23, tr.143] Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định. Lợi ích càng lớn thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu cảng cao, động lực cảng được tạo ra. Cũng giống như nhu cầu, lợi ích được chia thành lợi ích vật chất và lợi ích tỉnh thần.
Người ta còn phân loại thành lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. “Trong xã hội phát triển thì việc cân bằng mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể ngày cảng trở nên quan trọng bởi điều đó sẽ quyết định đến sự thành bại của tổ chức. Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định.201] Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng. đạt được kết quả để thỏa mãn được nhu cầu của cá nhân.
Đông cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chỉ phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành đi Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau và trong các tỉnh huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc day của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống. Động cơ rất trừu tượng và khó xác định: Động cơ thường được che giấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội.
luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại 12 mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. 'Khi đói khát thì động cơ làm việc đề được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đây làm việc để muốn giàu có và muốn thể hiện. Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đây NLĐ làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể, môi trường cụ thể, và đối với từng cá nhân NLĐ. Động lực làm việc Có nhiều khái niệm và mỗi khái niệm có một quan điềm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực làm việc.
Theo Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Theo Bai Anh Tuần (2015): “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ”. Như vậy, động lực làm việc có được không xuất phát từ bắt kỳ một sự.
cường chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó cũng không biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ nội tâm của NLD. Do xuất phát từ bên trong nên động lực làm việc rất trừu tượng. và khó xác định, nhà quản trị không thể đo lường trực tiếp mà phải phán đoán thông qua các hành vi thể hiện ra bên ngoài của NLĐ. Bản chất của động lực làm việc là những gì kích thích con người hành động để đạt được mục tiêu nào đó.
Mục tiêu của con người đặt ra một cách có ý thức được phản ảnh bởi động cơ của NLĐ và quyết định hành động của họ, còn động lực làm việc là biểu hiện của sự thích thú, hưng phán, thôi thúc để họ hăng say làm việc. Người quản lý phải hiểu và phân tích động cơ, động lực của NLĐ để đưa ra các chính sách hợp lý thúc đây NLĐ nhằm nâng cao hiệu. 13 suất làm việc, đạt được mục tiêu tổ chức và thỏa mãn nhu cầu của họ. Nhà quản lý cần biết về việc động viên nhân viên đó là tạo ra các điều kiện, môi trường làm việc thích hợp để khích lệ sự xuất hiện động lực mạnh mẻ bên trong ban thin NLD.
Động lực làm việc có một số đặc điểm đáng chú ý như sau: Động lực làm việc luôn phải gắn liền với một công việc, một tổ chức hay một môi trường làm việc cụ thể; Động lực làm việc không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân; Khi các yếu tố khác không đồi, thông thường động lực làm việc sẽ dẫn tới năng suất lao động và hiệu quả làm việc cao hơn. Nhưng điều nay không có nghĩa là tắt yếu bởi sự thực hiện công việc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác (khả năng NLĐ, phương tiện, nguồn lực. ILD khi không có, bị mắt đi hoặc bị suy giảm động lực làm việc thì vẫn có thể hoàn thành công việc và không mất khả năng thực hiện công việc, tuy nhiên, họ lại có xu hướng rời bỏ tổ chức. Động lực là yếu tố bên trong nhưng lại được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các dấu hiệu hành vi và thái độ, trong những hoàn cảnh và môi trường làm việc cụ thể.
Thông qua nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc của người lao động, các nhà quản ly sẽ đánh giá được động lực làm việc của họ để có sự tác động các chính sách quản lý nhân sự phủ hợp nhằm tạo động lực cho họ , góp phần tăng năng suất lao động. 'Về cơ bản có hai yếu tố biểu hiện cần đặc biệt quan tâm đó chính là mức độ tham gia của người lao động vào công việc và mối quan tâm của người lao động đối với nghề nghiệp của họ. Tạo động lực làm việc cho người lao động & Khái niệm Theo Bùi Anh Tuấn (2015): “Tạo động lực làm việc được hiểu là thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm 14 làm cho NLĐ có động lực trong làm việc”. Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi doanh nghiệp.
Các nhà quản trị trong tổ chức muốn xây dựng doanh ngiệp vững mạnh thì phải dùng. mọi biện pháp để kích thích NLĐ hãng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Tạo động lực là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động. viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu.
Tạo động lực làm việc là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất. Vậy tạo động lực cho NLĐ trong doanh nghiệp là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào tổ chức nhằm tạo ra động cơ cho NLĐ, ví dụ như: thiết lập ra những mục tiêu thiết thực vừa thỏa mãn nhu cầu của NLĐ vừa phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. Để tạo động lực làm việc cần phải sử dụng cả biện pháp về vật chất lẫn tỉnh thần. Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con người.
Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và luôn có động lực để rút ngắn khoảng cách đó. Xét theo quan điểm nhu cầu, quá trình tạo động lực của NLĐ bao gồm các bước được trình bày trong hình 1.1 'Nhu cầu Sự Các Hành Nhu cầu Giảm không được |_s| căng [_»| đông [>| vitim [¬| được | >| căng thỏa mãn thắng cơ kiếm thỏa mãn |_ | thẳng Hình 1. Quá trình tạo động lực Khi nhu cầu không được thỏa mãn sẽ gây ra sự căng thẳng, kích thích các động cơ bên trong cá nhân. Các động cơ nảy khiến cá nhân đó phải thực hiện một cuộc tìm kiếm những mục tiêu cụ thể mà khi đạt được các mục tiêu này, nhu cầu sẽ được thỏa mãn và làm giảm căng thẳng.
Nhà quản lý khi tạo động lực cho NLĐ cẵn quan tâm tới nhu cầu và từng 15 bước làm thỏa mãn các nhu cầu (hay cung cấp các lợi ích) cho NLĐ. Nhìn một cách trực tiếp: Khi gia tăng lợi ích cho NL thì lợi ích của người sử dụng lao động sẽ giảm đi.