phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau: ~ Chương l: Cơ sở lý luận tạo động lực làm việc cho người lao động. ~ Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Đắk Lắk. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho. cán bộ công chức tại Cue Hai quan tinh Dak Lak.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO DONG LUC LAM VIEC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. KHAI NIEM VA VAI TRO CONG TAC TAO DONG LUC LAM VIEC CHO NGUOI LAO DONG 1. Một số khái niệm cơ bản a. Dong co “Theo giáo trình Tâm lý học quản lý của Vũ Dũng, động cơ “là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cẩu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thé” [5, tr.232] Động cơ, theo từ điển tiếng Việt (1996), bỏ qua cách hiểu theo nghĩa kỹ thuật, “là cái có tác dụng chỉ phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động” [12, tr.
Theo đó, động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thỏa mãn những nhu cầu đỏi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Động cơ gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu bản thân họ. Động cơ là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao đề đạt được các mục tiêu của tô chức, phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả đề thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống.
chỉ phối thúc đây con người suy nghĩ, hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau và trong từng hoàn cảnh khác nhau lại có các động cơ. Các cá nhân khác nhau cũng sẽ có mức độ thúc đây của động cơ. 10 khác nhau cũng như các cá nhân trong các hoàn cảnh khác nhau có các động cơ khác nhau.
Như động cơ lao động là thái độ, ý thức chủ quan của con ngườiđối với hành động của mình. Theo từ điển Tiếng Việt (1996), động lực “là năng lượng làm cho máy. móc chuyển động; hay là cái thúc đầy, làm cho phát triển”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”[6, 11.128] Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sing, nd luc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ” [13, tr.85] Theo Maier va Lawler (1973), động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân, họ đã đưa ra mô hình vẻ kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năngx Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguằn lực Động lực = Khao khátx Tự nguyện Nhu vay, động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc được thể hiện qua những. công việc cụ thể mà mỗi người lao động đảm nhiệm và việc họ thể hiện thái độ làm việc với tổ chức. Mỗi người lao động khác nhau sẽ có động lực làm i việc khác nhau.
Động lực làm việc gắn liền với một công việc và môi trường. làm việc cụ thể Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân mà có thể thay đổi thường xuyên, phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Tại các thời điểm khác nhau, một cá nhân có thể có những động lực khác nhau. Động lực làm việc mang tính tự nguyện, phụ thuộc vào bản thân người lao động.
Người lao động khi làm việc thoải mái, không có sức ép hay áp lực nào, họ sẽ làm việc hăng say nên năng suất lao động cũng đạt được cao nhất. Nhu vay, động lực làm việc là nguồn gốc giúp tăng năng suất lao động của cá nhân và từ đó hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng được nâng cao. Tuy nhiên, động lực không phải là nhân tố duy nhất dẫn đến tăng năng suất lao động mà năng suất lao động còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như trí tuệ, trình độ, tay nghề, phương tiện, công cụ lao động và nguồn lực thực hiện công việc. Tạo động lực làm việc Theo giáo trinh Hanh vi 16 chức của tác giả Bùi Anh Tuần và Phạm Thúy Hương, tạo động lực được hiểu là “hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong lao động"[13, tr.
Theo Nguyễn Vân Điềm và cộng sự, tạo động lực làm việc là “tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thẻ thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc tỉnh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động”. Theo Va Thi Uyén, tạo động lực làm việc là “sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới nhân viên nhằm làm cho 12 họ có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đóng góp cho tô chức”. Mục đích của tạo động lực là làm tăng khả năng làm việc, tăng năng, suất, chất lượng công việc và mang lại hạnh phúc cho NLĐ. Quá trình lao động ở tô chức luôn có hướng bị nhàm chán, NLĐ bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội.
Để tác động làm cho NLĐ luôn hãng hái, tích cực, có tỉnh thần trách nhiệm cao, tô chức phải sử dụng đúng, đắn các biện pháp tạo động lực lao động. Hiện nay, doanh nghiệp có thể tạo động lực làm việc bằng vật chất và tỉnh thần. Khuyến khích vật chất là việc dùng hoạt động dùng lợi ích vật chất để khuyến khích người lao động qua tiền lương, tiền thưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp,. Khuyến khích tỉnh thần là những hoạt động dùng lợi ích tỉnh thần là những hoạt động dùng lợi ích tinh than để khuyến khích người lao động như đánh giá, đối xử với người lao động một cách công bằng; tạo cơ hội đào tạo, thăng tiến, khen thưởng, xử phạt công bằng, nghiêm minh; xây dựng hệ thống danh hiệu lao động giỏi; xây dựng các chương trình phúc lợi ph tài chính,.
Bắt cứ doanh nghiệp nào cũng phải cân bằng giữa hai hình thức này, không được coi nhẹ hình thức nào. Vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động, Động lực làm việc mang lại lợi ích to lớn cho cả người lao động, doanh nghiệp và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội. Cụ thể như sau: ~ Với cá nhân người lao động, động lực giúp người lao động làm việc hãng say hơn; tăng năng suất lao động cá nhân, phát huy được tính sáng tạo; tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiện tại. Công việc được thực hiện thuận lợi hơn, và họ sẽ thấy được công sức mà họ bỏ ra có lợi ích, mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp.
Điều này giúp họ cảm thấy việc làm mình có ích, có ý nghĩa, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp và qua đó khuyến 13 khích họ không ngừng hoàn thiện bản thân. ~ Với cơ quan, tô chức: động lực giúp sử dụng nguồn nhân lực được sử dụng hiệu quả nhất; khai thác tối ưu khả năng của người lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Động lực giúp hình thành nên tài sản quý giá của doanh nghiệp là những lao động giỏi, có năng lực, có tâm nhiệt, nhiệt tình gắn bó với tổ chức và thu hút thêm nhiều nhân lực cho doanh nghiệp. Động lực sẽ giúp môi trường làm việc, bầu không khí làm việc hãng say, thoải mai, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao uy tín, hình ảnh của Công ty.
~ Đối với xã hội, động lực làm việc giúp các cá nhân có thể thực hiện được mục tiêu, mục đích của mình, đời sống tỉnh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú, từ đó góp phần xây dựng nên những giá trị mới cho xã hội. Các thành viên trong xã hội sẽ được phát triển toàn diện, có cuộc sống hạnh phúc hơn khi họ được thỏa mãn các nhu cầu. Động lực làm việc gián tiếp giúp xã hội xây dựng được đội ngũ cán bộ ngày càng giỏi, nhờ đó, nền kinh tế của đất nước sẽ ngày càng phát triển.2, MOT SO HQC THUYET TAO DONG CO THUC DAY 1.Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn. Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu sinh lý, Nhu cầu an toàn, Nhu cầu xã hội, Nhu cầu được tôn trọng, Nhu cầu tự hoàn thiện [18]. Tháp nhu cầu của Maslow được tóm tắt trong hình dưới đây: 14 ‘Nhu cau bậc ‘Nhu cu được. tôn trọng cao 'Nhu cầu xã hội "Nhu cầu an toàn.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Nguôn: PGS. Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình quản trị nhân lực tập II, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, tr.
158 [8] Nhu cầu sinh lý là các đòi hỏi cơ bản của con người về thức ăn, nước uống, chỗ ở, ngủ và các nhu cầu cơ thể khác. Đây là nhu cầu thấp nhất, cơ bản nhất trong hệ thống nhu cầu và là những nhu cầu mà con người luôn muốn thỏa mãn trước tiên, bởi các nhu cầu này giúp duy trì sự tồn tại tự nhiên của cơ thể, chỉ phối những mong muốn của con người. Do đó, con người sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn, sau đó mới đến nhu cầu thỏa mãn các nhu cầu khác cao hơn. Nhu cầu an toàn là nhu cầu được ồn định, chắc chắn, được bảo vệ khỏi các điều bắt trắc trong cuộc sống như an toàn về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạnh, gia đình, được đóng bảo hiểm, được tiết kiệm,.