Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tạo động lực làm việc Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho nhân viên tại Trung tâm điều dưỡng người có công miền Trung Chương 3: Hàm ý giải pháp 1. TONG QUAN TAI LIEU THAM KHAO Động lực và tạo động lực làm việc luôn là vấn đề được các lãnh đạo. quan tâm và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mỗi đơn vị, đặc biệt là các tổ chức thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, lĩnh vực công. Ở nước ngoài, trong.
nhiều năm qua đã có rất nhiều đề tài liên quan được thực hiện như: Buelens và Broeck [19] đã thực bài nghiên cứu với đề tài “Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa tổ chức ở khu vực công và khu vực tư”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra sự khác biệt về sự khác biệt về động lực làm việc của nhân viên giữa các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công và tư. Kết quả nghiên cứu trên 3.314 nhân viên làm việc trong lĩnh vực tư nhân và 409 nhân viên trong lĩnh vực công tại Vương quốc Bi, đã kết luận yếu tố phần thưởng ít ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong, lĩnh vực công hơn là lĩnh vực tư; yếu tố thuộc về bên trong như tỉnh thần trách nhiệm hay sự phát triển của bản thân ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong lĩnh vực công là không đáng kể; yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới động lực làm việc của nhân viên trong lĩnh vực công là những kỳ vọng về công việc và môi trường làm việc có sự quan tâm, chia sẻ. Trong bài nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt về động lực làm việc giữa giới tính.
Thông Trang 6 thường, phụ nữ ít thời gian để thư giãn, nghỉ ngơi hơn đàn ông. Phụ nữ thường được thúc đẩy bởi tiền lương và các mối quan hệ tốt đẹp trong tô chức. Caillier [20] thuc hiện khảo sát với khoảng 20% nhân viên làm việc cho chính phủ tại New York. Tác giả đã kết luận trong bài nghiên cứu của mình rằng nhân tố “không rõ ràng về vai trò” ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ thực hiện công việc.
Các nhân tô “mức độ đóng góp cho cơ quan”, “cơ quan có đủ kinh phí để đáp ứng các mục tiêu của nhân viên”, “cơ quan chính phủ sử dụng hiệu quả các quỹ” ảnh hưởng tích cực đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các nhân viên tại đây. Cuối cùng tác giả đề xuất rằng sẽ tốt hơn khi các nhà quản lý giao các công việc cho nhân viên bằng văn bản được trình bày cụ thể và trao đổi rõ ràng hơn. Lambrou và cộng sự [35] đã thực hiện một cuộc đánh giá các yếu tố tác động đến động lực làm việc của các nhân viên y tế tại bệnh viện Nicosia. Bài khảo sát dựa trên lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow và lý thuyết hai yếu tố của Herzberg.
Tác giả đã kết luận rằng các yếu tố bao gồm: Đồng nghiệp; Thành tích đạt được; Đặc tính công việc và Tiền lương có ảnh hưởng đáng kề đến động lực làm việc của các nhân viên y tế tại đây Tại Pakistan, tác giả Tausif [52] thực hiện một cuộc khảo sát đối với các giáo viên của những trường học công lập và kết luận rằng các phần thưởng phi tài chính là thực sự cần thiết để nâng cao sự thỏa mãn công việc cũng như là tạo động lực thúc đẩy nhân viên. Các nhân viên của Cục Nhập cư ở Malaysia đã tham gia khảo sát được thực hiện bởi Mahazrila'Aini và cộng sự [3§] để nghiên cứu các yếu tố động lực làm việc của nhân viên. Các biến được sử dụng gồm: công việc được giao, phần thưởng, công nhận, giao tiếp, đào tạo và phát triển, sự tham gia của nhân viên và môi trường làm việc. Những người tham gia khảo sát bày tỏ rằng giao tiếp và môi trường làm việc Trang 7 đã ảnh hưởng tiêu cực đến động lực của họ.
Mặt khác, các nhân tố đảo tạo và phát triển, phần thưởng, công nhận đóng góp một cách rất tích cực vào động lực của họ. Daneshkohan và cộng sự [22] thực hiện công trình nghiên cứu khoa học về các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên y tế tại 55 bénh vién 6 Iran. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố thúc đây đội ig lực làm việc bao gồm: Quản lý tốt trong tô chức; sự hỗ trợ từ cấp trên, mối quan hệ giữa đồng nghiệp và quản lý. Các tác giả cũng khẳng định rằng việc bị đối xử thiếu công bằng là một trong những yếu tố mạnh mẽ nhất cản trở động lực làm việc của đội ngũ y tế tại đây.
Ngoài ra các yếu tố như: tiền lương, tiền thưởng, chính sách nhân sự, sự công nhận cũng có tác động mạnh mẽ đến hiệu suất và khả năng duy trì công việc của họ. Adjei [14] đã khẳng định mối quan hệ tích cực giữa động lực làm việc và kết quả làm việc của nhân viên dựa trên khảo sát các nhân viên trong lĩnh vực y tế tại Ghana. Bài nghiên cứu khám phá được rằng động lực làm việc (gồm cả động lực tài chính và phi tài chính) là yếu tố chính và mạnh mẽ nhất tác động đến khả năng hoàn thành công việc tại đây Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động trong nước đã được công bố trên các tạp chí, sách, báo uy tín. Điều này thẻ hiện sự quan tâm của tổ chức đến đời sống của người lao động, góp phần nâng cao tỉnh thần làm việc, cống hiến của lực lượng lao động có đào tạo cho kinh tế- xã hội Theo Hồ Thị Thu Hằng và cộng sự [3], trong đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Tỉnh Vĩnh Long năm 2015”, nhóm tác giả đã đưa ra 2 nhóm nhân tổ tác Trang 8 động đến động lực làm việc của nhân viên tại đây, đó là: các đặc điểm nhân khâu học (giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng con cái) và các đặc điểm công việc (trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, vị trí làm việc, khoa/ phòng làm việc, tập huắn, thời gian làm việc trong tuần, thu nhập bình quân).
Trong đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên y tế ngành lao tỉnh Tây Ninh”, Nguyễn Thị Thùy Quyên [8] đã vừa thực hiện nghiên cứu định tính thông qua việc khảo sát sơ bộ 20 đáp viên, vừa tiến hành nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát 199 đáp viên, tất cả đều đang công tác trong ngành lao tại tình Tây Ninh. Nghiên cứu đã chứng minh “Môi trường làm việc” là nhân tó có ảnh hưởng lớn nhất đến động lực làm việc của nhân viên y tế ngành lao tỉnh Tây Ninh trong 7 nhân tố tác động (sự công nhận, lãnh đạo, tính thú vị của công việc, môi trường làm việc, đào tạo và thăng tiến, thu nhập và phúc lợi). Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện tại các quốc. gia nhu: Ghana, Malaysi Mỹ, Việt Nam.
liên quan đến động luc va tao động lực trong các tổ chức, đơn vị thuộc những ngành nghề và lĩnh vực khác nhau. Mặc dù phạm vi nghiên cứu khác nhau, nhưng nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra được tầm quan trọng của động lực để từ đó nhấn mạnh công. tác tạo động lực làm việc là việc hết sức cần thiết và thiết thực, có tác động lớn trong cải tạo năng suất, nâng cao chất lượng lao động, là tiền đề vững chắc để xây dựng doanh nghiệp vững mạnh. Các nghiên cứu đã tập trung làm rõ các cơ sở lý thuyết về động lực và tạo động lực, đánh giá thực trạng công, tác tạo động lực và cuối cùng, đưa ra kiến nghị giúp hoàn thiện công tác tạo động lực tại doanh nghiệp.
Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu vào việc đánh giá khách quan về tạo động lực làm việc tại Trung tâm điều dưỡng người có công miền Trung. Vì vậy đề tài “Tạo động lực làm việc cho nhân Trang 9 viên tại Trung tâm Điều dưỡng người có công Miền Trung” sẽ góp phan hoàn thiện và nâng cao động lực làm việc cho các nhân viên tại đây phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tạo động lực làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, lĩnh vực công tại Việt Nam còn ít được chú ý do đó kết quả của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà quản lý về việc xây dựng các chính sách tạo động lực cho người lao động. Trang 10 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIEC 1.
CAC KHAI NIEM VA LY THUYET TANG LIEN QUAN DEN DONG LUC LAM VIEC 1. Các khái niệm về động lực làm việc Khái niệm về động lực đã xuất hiện từ rất lâu. Vào cuối những năm 70. của thé ki 20, Campbell va Pritchard [45] cho rằng động lực làm việc bao.
gồm một bộ mối quan hệ đa dạng phụ thuộc và không phụ thuộc vào nhau. Nó giải thích phương hướng, kỹ năng, sự hiểu biết về những nhiệm vụ và cả hoạt động mà các cá nhân miễn cưỡng phải thực hiện trong môi trường làm việc. Động lực làm việc cũng đề cập đến trạng thái tâm lý cơ bản đưa đến cách ứng xử, hành vi của các người lao động Đến những thập niên sau đó, các khái niệm về động lực ngày càng rõ ràng hơn. Theo Mitchell [42] định nghĩa động lực là thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu.
Theo Robbins [47] định nghĩa “Động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện ở mức độ cao của những nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức trên cơ sở thỏa mãn những nhu cầu cá nhân”. Hay theo Pinder [36] thì cho rằng động lực làm việc là tập hợp các nguồn lực xuất phát từ bên trong hay bên ngoài của cá nhân tạo nên, dẫn dắt và duy trì hành vi liên quan tới công việc của mỗi người. Greenberg và Baron [25] định nghĩa động lực như một tập hợp các quá trình khơi dậy, định hướng và duy trì hành vi của con người nhằm đạt được mục tiêu nào đó. Halepota [26] đã định nghĩa động lực là một người tham gia tích cực và cam kết đạt được các kết quả quy định.