CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TÓ CHỨC 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nguồn nhân lực trong phạm vi doanh nghiệp Đinh Văn Toàn (2020): '°Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [11, tr.
Hoàng Văn Châu (2019): “Nguồn nhân lực của một tổ chức là khả năng làm việc của toàn bộ người lao động trong tổ chức đó, có khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, cần được quản lý và phát triển không ngừng. nhằm đáp ứng vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tô chức” [15, tr.2] Nguyễn Văn Dân (2021): “Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chat va tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội” [16, tr. Nguyễn Văn Điềm (2016): “Phát triển nguồn nhân lực chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thẻ lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tỉnh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đồi tiền bộ về cơ cầu nguồn nhân lực. Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người” [6, tr.
- Vai trò, ý nghĩa của PTNNL trong tô chức: Nguyễn Hữu Thân (2016): “Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Nhân lực là nguồn lực có giá trị, không thể thiếu đối với một hoạt động của tô chức hay doanh nghiệp, đồng thời hoạt động của bản thân nó thường bị chỉ phối bởi nhiều yếu tổ tạo nên tính đa dạng. và phức tạp của nguồn nhân lực. Chính vì vậy nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của 1 tổ chức cũng như của một doanh nghiệp” [7, tr.
Y nghĩa của PTNNL trong tô chức: Nguyễn Hữu Thân (2016): “Là con đường giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.” Nguyễn Hữu Thân (2016): “Nâng cao về phương diện thể lực, trí lực và và phẩm chất đạo đức người lao động.” Nguyễn Hữu Thân (2016): “Nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát triển kỹ năng, nâng cao nhận thức đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại và tương lai của tổ chức.” Nguyễn Hữu Thân (2016): “Giúp lãnh đạo các doanh nghiệp có cách nhìn mới, lầy đủ hơn về xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực quản lý, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp. thực hiện hoàn thành tốt mục tiêu kinh doanh của công ty.” Nguyễn Hữu Thân (2016): “Là giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh trong họat động kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường.2 Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Trần Kim Dung (2016): “Hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động. chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tô chức lẫn nhân viên” [25, tr. 'Vũ Văn Phúc (2019): “Những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tô chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân” [24, tr.
Va Văn Phúc (2019): “Tuy nhiên, dù có hiểu theo cách nào, quản trị nguôn nhân lực vẫn là hoạt động của tổ chức đẻ thu hút, xây dựng, phát trí sử dụng, đánh bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.20] Vũ Văn Phúc (2019): “Do đó, về bản chất, quản trị nguồn nhân lực có thể hiểu là công tác quản lý con người trong phạm vi một tổ chức, là sự đối xử của một tổ chức doanh nghiệp với người lao động. Nói cách khác, quản trị nguồn nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào doanh nghiệp, giúp người lao động thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh.20] 'Vũ Văn Phúc (2019): “Quản trị NNL gồm một số nội dung cơ bản đó là: Hoạch định nguồn nhân lực; Phân tích công việc; Tuyển dụng nguồn nhân lực; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; Đánh giá thành tích nhân viên; Đãi ngô lao động.20] Như vậy, quản trị nguồn nhân lực luôn luôn có nội dung PTNNL 1.3 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Vũ Thùy Dương (2020): “Phát triển là quá trình biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình biến đổi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tích lũy dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng.
19] Vũ Thùy Dương (2020): “Phát triển nguồn nhân lực tùy theo các góc nhìn và hướng tiếp cận khác nhau mà có một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực như sau:” [20, tr.19] Dựa vào UNESCO, “phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp với sự phát triển của đất nước. Và chỉ nên giới hạn trong phạm vi kỹ năng lao động và thích ứng với nhu cầu việc làm”. Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi nguồn nhân lực. 'Vũ Thùy Dương (2020): “Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có.
thể hiểu về phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồi họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nước làm giàu cho xã hội. Ở góc độ vi mô, phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đào tạo, nhưng trên thực tế, phát triển nguồn nhân lực có nghĩa rộng hơn. Ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trường. Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng:” [20, tr.19] “Phát triển về số lượng: là sự gia tăng về lượng của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động mới.
Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của qué gia diễn ra theo cơ cấu độ , cơ cấu khu vực phân bồ nhân lực và cơ cấu về giới.” “Phát triểi chất lượng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ của các thành viên trong xã hội 10 hoặc tô chức. Thước đo để so sánh sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số phát triển con người, do Liên hợp quốc sử dụng.” “Trong mỗi tổ chức, phát triển nguồn nhân lực là việc phát triển về số lượng và chất lượng thông qua thực hiện các chức năng của công tác phát triển nguồn nhân lực, nhằm có được một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tô chức trong từng thời gian nhất định.” Va Thùy Dương (2020): “Con người là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là nhân tố sản xuất thông thường. Vì vậy, việc phát triển con người là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và bền vững. Vì thế việc phát triển con người không chỉ là sự gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà còn bao gồm cả việc mở rộng khả năng của con người, tạo cho con người có thể tiếp cận nền giáo dục tốt hơn, chỗ ở tiện nghỉ hơn và việc làm có ý nghĩa hon” [16, tr.20] Nhu vay khái niệm PTNNL như sau: “PTNNL bao gồm tắt cả các hoạt động nhằm nâng cao thể lực và phẩm chất của người lao động, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong từng thời kỳ”.
PTNNL là con đường giúp DN nâng cao năng lực và sự phát triển của tổ chức. Để đạt được điều này, DN phải chú trọng về phát triển cả về phẩm chất, năng lực, thái độ đối với nhân sự. Nhờ vào điều này sẽ giúp cán bộ lãnh đạo của DN sẽ thay đôi tư duy về việc xây dựng đội ngũ nâng cao nguồn nhân lực. của DN nhằm phục vụ cho mục tiêu chung của DN.4 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực Nguyễn Văn Dung (2021): “Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo.
nên sự thành công của doanh nghiệp. Nhân lực là nguồn lực có giá trị, không thể thiếu đối với một hoạt động của tô chức hay doanh nghiệp, đồng thời hoạt 11 động của bản thân nó thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp của nguồn nhân lực. Chính vì vậy nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của 1 tổ chức cũng như của một doanh nghiệp.30] Nguyễn Văn Dung (2021): “Vai trò của nguồn nhân lực chính là vai trò của con người và được thẻ hiệt [17, tr30] + “Với tư cách là người sản xuất con người có vai trò quyết định đối với sự phát triển. Con người là nguồn lực sản xuất chính.” + “Với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ: Để tồn tại và phát triển con người cần được đáp ứng mọi nhu cầu vật chất lẫn tỉnh thần.