Chương I. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực Chương 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Ngân hàng Phương. Đông - Chi nhánh Đăk Lăk.
Một số giải pháp hoàn thiện công tác phát triển nguồn nhân. luc tai Ngân hàng Phương Đông - Chỉ nhánh Đăk Lăk. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực đã có nhiều tài liệu về lý thuyết và các công trình nghiên cứu, ở đây tác giả chỉ nêu ra các tài liệu đã tham khảo và lý thuyết đã áp dụng chính trong luận văn. ~ Về lý thuyết bao gồm: « Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực có các tác giả: Nguyễn Ngọc Quân (2007), Nxb Tài chính, Hà Nội.
© Sach Quan tri nguồn nhân lực do TS. NguyễnQuốc Tuấn chủ biên, đồng tác giả: TS. Đoàn Gia Dũng; PGS.TS Đào Hữu Hòa; ThS. Nguyễn Thị Loan; TS.
Nguyễn Phúc Nguyên; TS. Nguyễn Thị Bích Thu, nhà xuất bản Thống kê (2006). © Sach Quản trị nguồn nhân lực tác giả PGS.TS Trần Kim Dung, nhà xuất bản tổng hợp TP.Hồ Chí Minh (2015). © Sách Quản trị nguồn nhân lực tác giả John M.
Ivancevich, nhà xuất bản tông hợp TP. Hồ Chí Minh (2010). -Về thực tiễn khi thực hiện đề tài tác giả cũng đã tham khảo từ một số nghiên cứu đi trước có liên quan, đề từ đó rút ra được những định hướng và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với đề tài của mình Cụ thé các công. trình đã nghiên cứu về Phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp gồm: © Luan van thạc sĩ của Hoàng Thu Trang (2015): “Phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần COMAI8”, giúp tác giả có được cái nhìn tổng.
quát và nắm được những vấn đề cơ bản về Phát triển nguồn nhân lực của các. doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. © Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Vũ (2015): “Phát triển nguồn nhân lực ngành y tế của tỉnh Dak Lãk”cung cấp cho tác giả tư liệu cũng như những định hướng về việc phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Dak Lak. © Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Duy Hưng (2013): “Phát triển nguồn nhân lực tại khối tín dụng tiêu dùng ngân hàng Việt Nam thịnh vượng” giúp tác giả có được cái nhìn tông quát và nắm được những vấn đề cơ bản về Phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.
Tại Đăk Lăk hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về “Phát triển nguồn nhân lực tại Ngân hàng Phương Đông - Chỉ nhánh Đăk Läk” do đó tác giả đã chọn đề tài đề viết về phát triển nguồn nhân lực tại Ngân hàng Phương Đông. — Chi nhánh Đăk Lăk mà các công trình của các tác CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NH. MOT SO KHAI NIEM CO BAN 1. Nguồn nhân lực (NNL) a.
Dinh nghia Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resources) xuất hiện vào thập niên. 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên (personnel managemen!) với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chỉ phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay, với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resources management) với tính chất mềm dẻo. hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn đề người lao động có thê phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động, phát triển.
Có thể nói, sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người Theo Nicholas Henry định nghĩa: “NNL là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [17]. Cách hiểu này về nguồn nhân lực cũng xuất phát từ quan niệm coi nguôn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên nang lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tô chức. Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước. Bùi Văn Nhơn thì: “NNL doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [8, tr.
Đứng trên quan điểm của quản trị nguồn nhân lực hiên đại, PGS. Tran Kim Dung cho rang: “NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có các vai trò khác nhau và liên kết với nhau nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của tổ chức” [3]. Vì vậy, trong luận văn này, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: “Nguén nhân lực của một tổ chức là toàn bộ người lao động làm việc trong tỗ chức đó theo một cơ cầu xác định, với khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, được tỗ chức quản lý và phát triển nhằm thúc đẩy vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức. Những đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản của mọi tỗ chức: Xã hội không ngừng tiến lên, tổ chức không ngừng phát triển và con người luôn đồng.
hành với sự tiến lên và phát triển đó. Khi xã hội còn, khi tổ chức còn thì nguồn nhân lực của xã hội đó, của tổ chức đó vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, sự phát triển của tri thức là vô hạn, con người luôn phải tìm kiếm và khám phá ra cái mới, nhưng quá trình này luôn không có điểm dừng, mà chỉ là sự thừa kế và phát triển từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chính vì vậy, Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản, không bao giờ cạn kiệt của mọi tô chức.
Nếu các tổ chức biết cách phát triển và khai thác tốt, thì nguồn nhân lực là nguồn lực có đóng góp rất lớn và quyết định sự thành công trong hiện tại cũng như tương lai của doanh nghiệp. Khi chúng ta nghiên cứu về Nguồn nhân lực dưới góc độ là một nguồn lực căn bản trong một tổ chức, thì năng lực lao động của một con người trở thành năng lực nghề nghiệp của một nhân viên, và người có năng lực nghề nghiệp tốt phải là người: có một cơ thể khoẻ mạnh, có tỉnh thần chủ động làm việc, có ý thức sáng tạo cái mới, có khả năng thích ứng với môi trường tô chức và văn hoá doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là nguồn lực năng động: Giá trị của nguồn lực con người được thê hiện dưới năng lực lao động của con người, mà năng lực lao động của con người không thể tồn tại độc lập ngoài cơ thể sống, hay nói cách khác nguồn nhân lực là nguồn lực con người, mà con người thì luôn trong trạng thái động và biến chuyền phức tạp. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về giá trị của hàng hoá, ta nhận thấy rằng giá trị hàng hoá được cấu thành bởi 2 bộ phận là “giá trị chuyển dịch” và “giá trị gia tăng”.
Giá trị chuyển dịch là giá trị của những yếu tố sản xuất như: nguyên vật liệu, thiết bị. thông qua quá trình sản xuất đã chuyền hoá giá trị vốn của nó vào sản phẩm. Do đó, giá trị chuyển dịch không tạo ra lợi nhuận. Giá trị gia tăng là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và giá trị chuyển dịch.
Phần giá trị này về cơ bản là do lao. động sáng tạo ra, đó chính là nguồn góc lợi nhuận của doanh nghiệp. Giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuận sẽ càng lớn, mà muốn có giá trị gia tăng cao thì phải dựa vào chất lượng và kết quả của nguồn nhân lực.Chính vì vậy, nguồn nhân lực là một nguồn lực năng động, nguồn lực chính tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Nguồn nhân lực là nguồn lực tích cực nhất và năng động nhất trong hoạt động kinh tế xã hội.
Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, thì nguồn nhân lực càng khẳng định được vị trí của nó trong các tổ chức, thông qua những giá trị mà nó tạo ra; và sự không thể thay thế và khó kiểm soát của nó. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực là nguồn lực cốt lõi tạo ra sự khác biệt, sự sáng tạo cho tổ chức. Chính vì vậy, mà nguồn nhân lực là nguồn lực có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. Đây là nguồn lực mang tính chiến lược.
Phát triển nguồn nhân lực Đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực có nhiều các tiếp cận khác nhau, cụ thê: Theo Leonard Nadler thì: “PTNNL là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tô chức và cá nhân” [16, Tr. Khái niệm này đã nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của phát triển nguôn nhân lực là phát triển tổ chức và có nhắn mạnh đến sự kết hợp giữa mục tiêu phát triển cá nhân và mục tiêu phát triển tô chức. Rothwell (1997): “PTNNL đề cập đến kinh nghiệm học tập có tô chức do người chủ doanh nghiệp tài trợ. Nó được thiết kế và thực hiện với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc và cải thiện điều kiện con người thông qua việc đảm bảo kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu cá nhân” [15].
Khai niệm này thé hiện sự kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu cá nhân. Khai niệm đã nhắn mạnh đến các giải pháp chính thức và không chính thức trong hoạt động phát triển nguồn nhân lực và cũng đã nhắn mạnh đến các giải pháp về tổ chức quản lý. Mặt khác, sự giải thích của khái niệm cũng đã đề cập đến sự cam kết phát triên nghề nghiệp của con người trong tô chức. TS Trần Xuân Cầu và PGS.
TS Mai Quốc Chánh thì phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) và nâng cao. về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cầu nguồn nhân lực ngày càng.