CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỀN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TÔ CHỨC 1. NHỮNG KHAI NIỆM CHUNG VE PHÁT TRIÊN NGUON NH. Nguồn nhân lực “Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [I1, tr23]. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
“Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động. chính của xã hội “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tỉnh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng, để sản xuất ra của cải vật chất và tỉnh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước” [1, tr. Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính Nhà nước Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung 15 quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất Theo Nguyễn Tiến Dĩnh nguyên thứ trưởng Bộ Nội Vụ, thì: Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính Nhà nước là lực lượng công chức và người lao động trong các cơ quan hành chính, họ vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của nền hành chính.
Nguồn nhân lực hành chính công là một trong những yếu tố quan trọng mang tính quyết định đến hiêu quả quản lý cho nền hành chính Nhà nước. Vấn đề này đã được luật hóa trong các văn bản quản lý, Luật cán bộ công chức năm 2008 đã quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm và điều kiện bảo đảm thi hành công vụ. Trong đó điều kiện bảo đảm thi hành công vụ, như: Đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng; luân chuyển; đánh giá công chức chính là nội dung chính về phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính Nhà nước 1. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển tông hợp về trí tuệ, phẩm chất, kỹ năng nhằm đáp ứng yêu cầu dé thỏa mãn sự phát triển về kinh tế xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.
Nadler cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo (theo nghĩa rộng) là những thuật ngữ có cùng nội hàm. Tác giả này định nghĩa “Phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công. “Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả sức sáng tạo, cũng như truyền thống lịch sử và nền văn hoá mà con người được thụ hưởng [12], 16 Phát triển nguồn nhân lực, về bản chất là sự gia tăng, biến đổi theo hướng tích cực về chất lượng trên các mặt: thể lực, trí lực, thái độ làm việc và kỹ năng lao động. Theo Dinh Việt Hòa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình hình thành và phát triển năng lực mọi mặt của con người; sự hình thành và phát triển này phục vụ cho sự tiến bộ xã hội, phát triển kinh tế và là sự hoàn thiện của từng cá nhân.
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể về chất lượng của nguồn nhân lực và sự biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng. cao năng lực và động cơ của người lao động. Thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đó. Hay nếu tăng quy mô quan tâm đến việc tăng số lượng nguồn nhân lực, thì phát triển nguồn nhân lực quan tâm đến chất lượng của nguồn nhân lực đó Theo Lê Thị Mỹ Linh, Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đây việc học tập nhằm nâng cao kết quả thực hiện công tác.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tiếp cận phát triển nguồn nhân lực tại Cục QLTT Gia Lai ở các góc độ: Đánh giá nhu cầu phát triển nguồn nhân lực; Nâng cao kiến thức nghiệp vụ, trình độ chuyên môn; nâng cao kỹ nghề nghiệp; nâng cao hành vi, thái độ, phẩm chất của công chức và người lao động tại cục QLTT Gia Lai. Để phát triển nguồn nhân lực có thé áp dụng các biện pháp về tổ chức hoặc phát triển về cá nhân. Phát triển tô chức chính là cách tiếp cận đề thúc đây môi trường học tập, quản trị tri thức, quản trị nghề nghiệp, phát triển năng lực dé đáp ứng sự thay đổi cho tổ chức. Phát triển cá nhân thông qua việc áp dụng cách tiếp cận trong phát triển cá nhân, đó là dao tạo chính thức, đánh giá nhân viên và tương tác trong công tác 1.
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực thông qua quá trình đào tạo giúp nhân viên làm việc tốt hơn, đặc biệt khi nhân viên làm việc không đáp ứng được các tiêu 17 chuẩn mẫu hoặc khi nhân viên nhận công việc mới. Giúp tô chức cạnh tranh với các tổ chức khác về chất lượng sản phẩm và người lao động gắn bó hơn trong công việc. Về phía người lao động, dao tạo đáp ứng nhu cầu học tập của người lao động, là một trong những yếu tố thúc đẩy động cơ làm việc tốt. Khi khoa học công nghệ phát triển, người lao động luôn phải nâng cao trình độ văn hóa và nghề nghiệp chuyên môn để không bị tụt hậu.
Dao tao nguồn nhân lực sẽ giúp họ nâng cao kiến thức và tay nghề giúp họ tự tin hơn, làm việc có hiệu quả hơn, phát huy khả năng của từng người, đáp ứng sự thay đôi của môi trường làm việc. ~ Phát triển nguồn nhân lực giúp thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao về với tổ chức, giữ được nhân viên giỏi. Đảm bảo tổ chức có đủ số lượng nhân lực với các phẩm chất phù hợp với công việc của mình. Vấn đề này có ý nghĩa hơn trong bối cảnh dân số Việt Nam đang giả đi, tỷ lệ lao động.
trong tổng số dân đang giảm xuống. Canh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau về thu hút lao động ngày càng mạnh mẽ, nhất là lao động ở các vị trí công việc cao. ~ Giảm bớt sự giám sát vi người lao động được đảo tạo là người có khả năng tự giám sát. Ý thức kỷ luật tốt cũng như có trách nhiệm trong công việc.
Quản trị nguồn nhân lực thông qua công tác tiền lương và đào tạo, giúp người lao động tự điều chỉnh hành vi của họ, giảm bớt sự giám sát của tô chức về mà hành chính như vậy có lợi cho cả 2 bên. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nền tảng của phát triển kinh tế hội nhập, nguồn nhân lực được xem là một trong những khâu đột phá phục vụ cho. chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế xã hội ở Nước ta. Phát triển nguồn nhân lực chính là nền tảng của phát triển bền vững, tăng lợi thế cạnh tranh của Đắt nước.
Đặc biệt là trong điều kiện Quốc gia đang hướng tới nền kinh tế tri thức, thì vai trò của nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng. 18 Việc phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính Nhà nước, có vai trò quan trọng trong việc quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng công chức „ người lao động (NLĐ) một cách hợp lý. Phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính quyết định đến sự thành công hay thất bại của một tô chức, một địa phương hay rộng ra là cả Đất nước. Xét trên phương diện một tô chức cụ thể, thì nguồn nhân lực có những.
vai trò như sau: 1. Nguyên tắc phát triển nguồn nhân lực -Con người hoàn toàn có năng lực phát triển, thích nghỉ tốt với sự phát triển của xã hội nói chung, khoa học và công nghệ nói riêng. Khi điều kiện bên ngoài thay đổi thì năng lực của con người cũng thay đổi để đáp ứng với điều kiện đó. Do vậy, phát triển năng lực con người chính là phát triển tổ chức.
~ Mỗi người đều có giá trị riêng, mỗi người là một con người cụ thể có cá tính, có năng lực riêng biệt. Do vậy mỗi người đều có khả năng đóng góp trí tuệ, sức lực cho tô chức. Bên cạnh đó, thành viên trong tô chức mong muốn thông qua đào tạo và phát triển để có thể đóng góp, cống hiến nhiều hơn trong tô chức; có cơ hội thăng tiến trong tổ chức. ~ Lợi ích của người lao động và những mục tiêu của tổ chức có thể kết hợp với nhau, những mục tiêu của tổ chức và phát triển nguồn nhân lực bao gồm: Tạo động lực cho tắt cả các thành viên đóng góp trí tuệ, sức lực cho tô chức.
~ Phát triển nguồn nhân lực là một nguồn đầu tư sinh lời đáng kẻ, vì nó. bao gồm những phương tiện để đạt được sự phát triển của tổ chức có hiệu quả nhất [8, tr. NỘI DUNG PHÁT TRIÊN NGUON NHÂN LỰC *Xác định cơ cấu nguồn nhân lực: Cơ cấu nguồn nhân lực là thành phần, tỷ lệ và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận của nguồn nhân lực trong tổng thể. Những mối quan hệ này bao hàm cả mặt chất lượng và số lượng phản ánh tình trạng nguồn nhân lực của tổ chức ở một thời kỳ nhất định.
Nói đến cơ cấu nguồn nhân lực là nói đến mối quan hệ về tỷ lệ giữa các bộ phận nguồn nhân lực trong tổng thể, bao gồm cơ cấu theo ngành nghề, nhiệm vụ công việc và giữa các đơn vị trong tổ chức.