Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội - Chỉ nhánh Miền Trung trong giai đoạn 2015-2019 Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội - Chỉ nhánh Miền Trung. 10 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE PHAT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT VỀ NGUỎN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIÊN NG N LỰC 1. Một số khái niệm.
Nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực là tổng thể nguồn lực từng cá nhân con người. Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng. sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng. và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3, tr.13] “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [3, tr.14] Chúng ta biết rằng: “bất kỳ một tô chức nào cũng được tạo thành bởi các. thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Nguồn nhân lực bao gồm tắt cả mọi cá nhân tham gia bắt cứ hoạt động nào của một tổ chức, bắt kể vai trò của ho là gì” [6,tr. Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công.
i trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, do vậy phát triển nguồn nhân lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của tắt cả các nước trên thế giới. Hiện nay, có khá nhiều cách tiếp cận cũng như cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực: “Trong doanh nghiệp: “NNL doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng. doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [10, tr 72] “NNL của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong tô chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm trí lực và thể lực” [12, tr 7]. Số lượng nguồn nhân lực đề cập đến số lượng lao động hiện có trong tổ chức, doanh nghiệp.
Đây là số lao động biên chế để duy trì sản xuất trong hiện tại hoặc dự kiến trong tương lai. Chất lượng nguồn nhân lực là năng lực và động lực thúc đẩy người lao động trong quá trình tham gia đóng góp cho tổ chức. Trong mỗi doanh nghiệp, nguồn nhân lực, một mặt là động lực thúc đây sự phát triển của tổ chức, mặt khác, nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển tổ chức. Hay nói cách khác sự phát triển của tổ chức cũng nhằm phục vụ lợi ích và tạo điều kiện phát triển cho nguồn nhân lực.
Do đó, nhà quản lý ằn phải quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực của mình để đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả vẻ chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tai ma trong cả tương lai Phát triển nguồn nhân lực “Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình biến đổi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tích lũy dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng. 12 “Trong tổ chức “phát triển là quá trình lâu đài nhằm nâng cao năng lực và động cơ của nhân viên để biến họ thành những nhân viên tương lai quý báu của tổ chức. Phát triển không chỉ gồm đào tạo mà còn cả sự nghiệp và những kinh nghiệm khác nữa” [II, tr.
10] Phát triển nguồn nhân lực tùy theo các góc nhìn và hướng tiếp cận khác nhau ma có một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực như sau: Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động” [14, tr. “Trong luận án tiến sỹ “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nước Đông Á ~ Kinh nghiệm đối với Việt Nam” (2012) của tác giả Lê Thị Hồng Điệp: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất” 4, tr 26] Ngày nay, để phát triển nguồn nhân lực thường thì doanh nghiệp sẽ thực hiện các hoạt động nhằm thay đổi cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực sao cho phù hợp với định hướng, mục tiêu của tổ chức trong từng giai đoạn phát triển. Từ các khái niệm trên, tác giả xin đưa ra quan điểm của mình về khái niệm phát triển nguồn nhân lực như sau: “PTNNL bao gồm tắt cả các hoạt động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và phẩm chất của người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất trong từng thời kỳ”. Tom lại, phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng, đổi đáng kế về cả số lượng lẫn chất lượng của nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ đẻ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của tổ chức và yêu cầu của người lao động.
Ý nghĩa phát triển nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung và của mỗi tổ chức nói riêng. Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản của mọi tô chức. Nếu các tô chức biết cách phát triển và khai thác tốt, thì nguồn nhân lực sẽ đóng góp rắt lớn và quyết định sự thành công trong hiện tại cũng như trong tương lai của doanh nghiệp.
Đặc biệt là trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay thì nguồn nhân lực càng khẳng định được vị trí của mình trong các tổ chức, thông qua những giá trị mà nó tạo ra cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. Ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực trong tô chức ~ Giúp cho các tổ chức nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công. ~ Nâng cao chất lượng NNL về trí lực (kiến thức, trình độ chuyên môn), và phẩm chất đạo đức (thái độ, hành vi) ~ Nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; phát triển ky năng; nâng cao nhận thức đáp ứng được nhiệm vụ hiện tại và tương lai ~ Giúp cho lãnh đạo các tổ chức, có cách nhìn mới, đầy đủ hơn về xây. dựng đội ngũ có đủ năng lực về quản lý và trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức mình.
Với mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông, qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, trình độ tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao và thực hiện nhiệm vụ được giao được tự giác, độc lập hơn, với thái độ làm việc tốt hon, cũng như việc nâng, cao khả năng thích ứng của họ với các công việc dự kiến thực hiện trong tương lại 14 1. Nguyên tắc phát triển nguồn nhân lực Công tác phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp dựa trên 05 nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguồn nhân lực trong bất cứ doanh nghiệp nào cũng là một phận cấu thành từ nguồn lực xã hội, để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực. cần phải huy động từ nhân lực của quốc gia, của xã hội nhằm phát huy tối đa nguồn nhân lực sẵn có này. Thứ hai, nguồn nhân lực của doanh nghiệp không phải chỉ là phép công giản đơn khả năng lao động riêng lẻ của từng con người trong doanh nghiệp mà phải là sự “cộng hưởng” khả năng lao động của những con người đó, tức nó phụ thuộc vào khả năng làm việc theo nhóm của những con người trong tổ chức.
Nghĩa là, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không chỉ nâng cao khả năng lao động của từng cá nhân, thể hiện ở chất lượng lao đông, mà phải phát triển và hoàn thiện các yếu tố nâng cao khả năng làm việc theo nhóm giữa những con người đó như bố trí phù hợp công việc, sở trường, chế độ đãi ngộ phù hợp, môi trường làm việc luôn được cải thiện Thứ ba, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp và phải được hoạch định từ mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp và hướng đến giải quyết mục tiêu đó. Thứ tư, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một nguồn lực bên cạnh các nguồn lực khác là vốn, công nghệ,. nhưng khác với các nguồn lực khác.
về tính chất và vai trò của nó đối với doanh nghiệp. Đó là nó mang bản chất con người nên chịu sự chỉ phối của các yếu tố tâm sinh lý, quá trình sử dụng nó sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó; đồng thời, nó đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của doanh nghiệp. 15 Thứ năm, xét về mục tiêu, nếu như quản trị nguồn nhân lực có mục tiêu là tối ưu hoá kết quả của doanh nghiệp và cá nhân người lao động, đó là hiệu quả kinh tế cao đối với doanh nghiệp và thoả mãn nhu cầu của người lao động ngày cảng tốt hơn, thì phát triển nguồn nhân lực là nâng cao khả năng lao động mà doanh nghiệp có thẻ huy động được đề hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp đã đặt ra.