CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. KHÁI NIỆM VÀ PHAN LOẠI NGUÒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm Nguồn nhân lực Nhân lực là nói về sức lực nằm trong mỗi con người và làm cho con người họat động. Sức lực đó ngày càng hòan thiện cùng với sự phát triển của cơ thể và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động.TS Bùi Văn Nhơn định nghĩa: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”.
Tuy nhiên, với việc Luật lao động (2013) chính thức cho phép hoạt động “thuê ngoài lao động”; sẽ tồn tại một bộ phận lao động làm việc tại doanh nghiệp, là nguồn lực đóng góp trực tiếp vào. sự phát triển của doanh nghiệp, nhưng không thuộc danh sách doanh nghiệp đó trực tiếp quản lý và trả lương. Do đó, trong tình hình mới, định nghĩa trên cần sự biện luận nhiều hơn nhằm gia tăng tính thuyết phục. Theo luận án tiến sĩ (2009) của TS.
Lê Thị Mỹ Linh thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp”. Đây có thể xem là một định nghĩa tương đối đầy đủ và toàn diện. Nhưng khái niệm này vẫn chưa nêu rõ ưu điểm nỗi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp. Vi vậy, trong luận văn này, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức là toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức đó theo một cơ cấu xác định, với khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, được tô chức quản lý và phát triển nhằm thúc đẩy vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tô chức.
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là đội ngũ những người lao động đang làm việc, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhân lực chính là thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động mà anh ta sử dụng trong quá trình làm việc của mình. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự hoạt động của. mỗi doanh nghiệp.
Phát huy tối đa nguồn lực con người là mong muốn của tắt cả các nhà quản trị có trí thức và kỹ năng quản trị tốt nhằm đem lại kết quả và hiệu quả làm việc tốt nhất cho bản thân mỗi người lao động cũng như cho. doanh nghiệp của mình. Phân loại NNL “Trong một DN, tổ chức tùy theo đặc thù kinh doanh, trình độ quản lý, điều kiện làm việc, mà người ta có thể phân chia NNL theo cách phù hợp nhất để việc quản lý, sử dụng NNL có hiệu quả. Có nhiều cách để phân chia nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp như sau: ~ Phân loại NNL theo cơ cấu chức năng: Theo cách phân loại này nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia thành: lao động gián tiếp, lao động trực tiếp + Lao động gián tiếp gồm lao động quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế và quản lý hành chính.
+ Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tham gia vào. quá trình sản xuất kinh doanh trực tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ cho doanh. nghiệp như công nhân, học nghề, công nhân phục vụ, + Phân loại NNL theo Giới tính: là việc phân loại dựa trên tỷ trọng Nam, Nữ so với tông số lao động tong DN, cơ cấu lao động theo giới tính cho. phép đánh giá NNL trên góc độ: phân công lao động, bố trí lao động, đào tạo và phát triển NNL phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, sức khỏe, năng lực và sở trường của từng giới.
+ Phân loại NNL theo độ tuổi: là việc phân loại lao động ở từng độ tuôi hoặc nhóm tuổi so với tổng số lao động trong DN. ~ Phân loại NNL theo trình độ chuyên môn lành nghề: + Đối với công nhân trực tiếp: Cơ cấu lao động theo trình độ lành nghề được xem xét theo số lượng và tỷ trọng lao động của từng bậc (1,2,3.) trong tông số công nhân sản xuất. + Đối với lao động quản lý gián tiếp: cơ cấu trình độ chuyên môn được. phân chia theo các tiêu thức: không qua đào tạo, sơ cấp, trung cấp, cao ding, đại học, trên đại học.
PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development) đã được nhiều tác giả bàn đến. Liên quan tới nó cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo Thạc sĩ Nguyễn Vân Điềm và PGS TS Nguyễn Ngọc Quân: “Phát triển NNL là tổng thể các họat động học tập có tổ chức được tiến hành trong.
những khỏang thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”. Phát triển nguồn nhân lực đơn giản nhất chỉ là việc gia tăng quy mô nguồn nhân lực. Trong điều kiện công nghệ lạc hậu, ít cạnh tranh và trình độ lao động thấp kém, lợi thế cần tận dụng là nguồn nhân lực giá rẻ. Doanh thu và lợi nhuận sẽ tăng lên cùng với đà tăng của sản lượng.
Trong khi, sản lượng tỉ lệ thuận với số nhân công được sử dụng. Khi đó, nguồn nhân lực là một yếu tố đầu vào thông thường trong sản xuất, chỉ phí cho nó cảng thấp càng tốt. Ở một mức độ cao hơn, phát triển nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là phát triển è mặt số lượng, mà còn là phát triển cả về mặt chất lượng. Tuy 10 nhiên, phát triển nguồn nhân lực lại được gắn như là thành tựu của chức năng đào tạo.
Nhắc đến phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức là nhắc tới đào tạo, và dường như chỉ xoay quanh đảo tạo. Cho tới gần đây, đã có những nhận thức mới hơn, đầy đủ hơn về phát triển nguồn nhân lực Còn theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Richard Swanson da dinh nghĩa nó là “một quá trình phát triển và giải phóng chuyên môn của con người thông qua đào tạo và phát triển và phát triển tổ chức nhằm mục đích cải thiện hiệu suất.” Học tập là cốt lõi của tất cả các hiệu quả của Phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) có thể được định nghĩa là một tập hợp các hoạt động có hệ thống và được lập kế hoạch được thiết kế bởi một tổ chức để cung cấp cho các thành viên cơ hội học các kỹ năng cần thiết đẻ đáp ứng nhu cầu công việc hiện tại và trong tương lai.
Cụ thể hơn, PTNNL tìm cách phát triển “kiến thức, chuyên môn, năng suất và sự hài lòng của mọi người, cho dù là cá nhân, tổ chức, quốc gia, hoặc cuối cùng, toàn bộ nhân loại ”.Các hoạt động của PTNNL nên bắt đầu khi một nhân viên tham gia một tổ chức và tiếp tục trong suốt sự nghiệp của mình, bắt kể nhân viên đó là nhân viên điều hành hay công nhân trên day chuyên lắp ráp. Các chương trình PTNNL phải đáp ứng với các thay đổi công việc và tích hợp các kế hoạch và chiến lược dai hạn của tô chức để đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Như vậy các quan điểm về phát triển NNL trước hết chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong 11 vai gid, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tuỳ vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ.
Doanh nghiệp phải kết hợp hình thức giáo dục, kinh nghiệm nghề nghiệp, các mối quan hệ, đánh giá nhân cách và năng lực để giúp cho nhân viên chuẩn bị cho tương lai nghề nghiệp của mình. Tóm lại: Phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đảm bảo người lao động phát triển kỹ năng, đảm đương công việc ở các vị trí ngày càng cao hơn Muốn vậy, trước hết đó là các họat động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên những cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Trong khi các hoạt động đào tạo và phát triển tạo thành một phần quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, các hoạt động như huấn luyện, phát triển nghề nghiệp, xây dựng đội ngũ và phát triển tổ chức cũng là những khía cạnh phát triển nguồn nhân lực. Vai trò của phát triển NNL đối với sự phát triển của doanh nghiệp Vai trò của phát triển nguồn nhân lực được nhìn nhận đối với cả tổ chức và cá nhân: ¡ với DN: phát triển NNL là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể n tại và đi lên trong bối cảnh cạnh tranh.
Nó không chỉ nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc, chất lượng thực hiện công việc, duy trì và nâng cao chất lượng NNL, tạo kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý đồng thời giảm bớt sự giám sát cũng như nâng cao tính ôn định và năng động của tô chức tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tô chức. - Đối với người lao động: Trong quá trình mở rộng, phát triển của tổ chức, yêu cầu công việc sẽ ngày càng đòi hỏi cao hơn. Vì thế, vai trò của phát 12 triển lao động ngoài mục tiêu đáp ứng công việc hiện tại và tương lai của cá nhân người lao động còn tạo ra sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của họ, tạo cho họ cách nhìn và tư duy mới, làm tăng tính sáng tạo trong công việc, tăng hiệu quả làm việc cho tô chức. Các chức năng của phát triển NNL a.
Đào tạo và phát triển Đào tạo và phát triển tập trung vào việc thay đổi hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ của cá nhân.