CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIEN HẬU CÀN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Khái niệm và vai trò của hậu cần kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm hậu cần và hậu cin kinh doanh “Khái niệm hậu cân: “Thuật ngữ hậu cần được đặt trong khuôn khổ của lĩnh vực quân sự, là nơi tổ chức các hoạt động hậu cần trên quy mô lớn và hết sức phức tạp và đã trợ giúp đắc lực cho các chiến công trên trận địa. Lĩnh vực hậu cần và hoạt động hậu cần trong.
quân sự được ứng dụng rộng rãi trong kinh doanh. Trong kinh doanh hậu cần có mục tiêu vả đối tượng riêng, có phạm vi khác. hậu cần quân sự. Hậu cần kinh doanh đòi hỏi phải tính đến chỉ phí, mức dịch vụ.
khách hàng, u quả hoạt động. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc. cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyên sang cạnh tranh về quản lý hàng tổn kho, tốc độ giao hàng, hợp.
lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thinh phim,. trong ca hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, hậu cần có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời gian đầu, hậu cần chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho cá doanh nghiệp.
Cùng với quá trình phát triển, hậu cà đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế. Theo thống kê của Công ty Armstrong & Associates (Hoa Kỳ), tổng dung lượng thị trường hậu cần Bên thứ 3 (Third Party Hậu cần)[1] của Hoa Kỳ tăng trưởng với tốc độ 18%/năm và đạt 77 tỷ. Tuy nhiên, một điều khá thú vị là hậu cần được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự. Hậu cần được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong 2 cuộc Đại chiến thể giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến.
Hiệu quả của hoạt động hật cần, do đó là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại trên chiến trường. Cuộc đồ bộ thành công của quân đồng. minh vào vùng Normandie thang 6/1994 chính là nhờ vào sự nỗ lực của khâu chuẩn. bị hậu cần và quy mô của các phương tiện hậu cần được triển khai.
Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia hậu cần trong quân đội đã áp dụng các kỹ. năng hậu cần của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến. Hoạt động hậu cần trong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng và triển khai sau khi cl tranh, thế giới lần thứ 2 kết thúc. Trong lịch sử Việt Nam, 2 người đầu tiên ứng dụng.
thành công hậu cần trong hoạt động quân sự chính là vua Quang Trung-Nguyễn. 'Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc đại phá quân Thanh (1789) và sau đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Trai qua ding chảy lịch sử, hậu cần được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vực kinh doanh. Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “hậu cẳn” thường được hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản lý hệ thống phân phối vật chất (physical distribution management) của doanh nghiệp đó.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về hậu cần trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ hậu cần, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Liên Hợp Quốc (Khóa đảo tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý hậu cần, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): lậu cần là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu câu của khách hàng. " Ủy ban Quản lý lu cần của Hoa Kỳ 2010: “/fậu cẩn là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối tu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả vẻ chỉ phí và ngắn nhất vẻ thời gian đối với nguyên vật 10 liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng đề đáp ứng yêu câu của khách hàng.” Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Đi 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ hậu cần được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ hậu cân là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghỉ ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng dé hướng thù lao”. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ hậu cần có thể chia làm hai nhóm: Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 có nghĩa hẹp, coi hậu cằn gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa.
nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng "hoặc các địch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm hậu cần trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bỏ hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự). Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ hậu cần là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Theo họ, dịch vụ hậu cần mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ hậu cần theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cắp dịch vụ.
vận tải đa phương thức (MTO). Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ hậu cần có phạm vi rộng, có tác động từ. giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối củng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ hậu cần gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào.
các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. " ~ Khái niệm hậu cân kinh doanh: “Theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tắt cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh Iøi[16. Nhu vậy, Hậu cần kinh doanh là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát có hiệu quả luồng hàng hóa, việc dự trữ nguyên vật liệu thô, sản phẩm dở dang, thành phẩm và các thông tin có liên quan từ thò êm bắt đầu cho đến khi hàng hóa. được tiêu dùng sao cho đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của khách hàng.
Vai trò của hậu cần kinh doanh của doanh nghiệp nhà cung ứng của 'Hậu cần thực sự tạo ra giá trị - giá trị cho khách hàng, c: doanh nghiệp và cho chính doanh nghiệp. Giá trị trong hậu cần chính là giá trị thời gian và địa điể. Sản phẩm và dịch vụ sẽ không có giá trị nếu người tiêu dùng không có được chúng đúng nơi và đúng lúc khi họ muốn tiêu dùng. Ví dụ, hàng hóa nhập khẩu là đỏ tươi sống sẽ không có giá trị đối với những khách hàng khi chúng.
không nhập về đúng thời điểm cũng như địa điểm tập kết hàng, hoặc lượng dự trữ. được duy trì ở mức thấp so với nhu cầu của khách hàng muốn sử dụng nó. Mỗi hoạt động trong chuỗi cung ứng đều đóng góp vảo quá trình làm tăng. thêm giá trị.
Hoạt động có hiệu quả hay không liên quan đến từng mắt xích trong chuỗi cung ứng đó. Nếu giá trị gia tăng được tạo ra quá thấp doanh nghiệp vẫn có thể duy trì những hoạt động đó vì giá trị gia tăng được tạo ra khi khách hàng sẵn sàng trả với mức giá cao hơn so với chỉ phí để họ nhận được sản phẩm đó. Hậu cần là một quá trình quan trong dé tao ra giá trị gia tăng ngày càng lớn do. những yếu tố như: chỉ pÏ phạm vi cung ứng và phân phối, tạo lập chiến lược kinh doanh, làm tăng giá trị đới khách hàng, đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng.
Thứ nhất, hậu cần có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện,. tới sản phẩm cuỗi cùng đến tay khách hàng sử dụng. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, 12 liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm. tới chỉ phí, đặc biệt là chỉ phí vận chuyển.
Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng. cũng cao khiến các doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng. lại do việc duy trì quá nhiều hàng tồn kho. Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu.
Và với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, hậu cần chính là một công cụ đắc lực để. thực hiện điều này. Thứ hai, hậu cần hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động. sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, khi bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm,.
Đề giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò của hậu cần vì hậu cần cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chỉ phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.