CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT VỀ NGUÒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân - ThS Nguyễn Tấn Thịnh (Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, nhà xuất bản giáo dục Liệt Nam, tháng 10 năm 2009) “nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Ngoài ra, nguồn nhân lực của tổ chức còn bao gồm tất cả phẩm chất tốt đẹp, kinh nghiệm sống, óc sáng tạo và nhiệt huyết của mọi người lao động làm việc trong tổ chức, từ Giám đốc cho đến tất cả các nhân viên.
So với các nguồn lực khác như tài nguyên, tài chính và các yếu tố vật chất (như nguyên vật liêu, máy móc, thông tin,.) với tính chất là có giới hạn và thụ động thì nguồn lực lại có đặc điểm là vô tận, là chủ động, tích cực và sáng tạo. Sự ưu việt của nguồn lực so với các nguồn lực khác chính là do bản chất của con người” [2, Tr 6]. “Thể lực nó chỉ sức khỏe cơ thể con người, nó phụ thuộc vào tầm vóc, tình trạng sưc khỏe, điều kiện sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng, chế độ nghĩ nghơi, độ tuổi, giới tính và sự rèn luyện” [2, Tr 6]. *Trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, trình độ học vấn, kinh nghiệm, tài năng, quan điểm, lòng tin và nhân cách của con người” [2, Tr 7] Theo PGS.TS Vũ Hoàng Ngân, TS.
Phạm Thị Bích Ngọc (Giáo trình phát triển nguồn nhân lực, nhà xuất bản đại học kinh tế quôc đân 2019) “nguồn lực con người hay còn gọi là nguồn nhân lực bao gồm tất cả con 10 người làm việc trong một tô chức. Rất khó để đo lường nguồn nhân lực vì thiếu các thước đo tiêu chuẩn giống như tài sản cố định và lưu động. Ví dụ như, không thể hạ giá nguồn nhân lực như kiểu nguồn lực vật chất, hay như nguồn nhân lực cũng không thể hiện trong giá trị tài sản ròng giống như là các tài sản lưu động. Tuy nhiên, nguồn nhân lực đó trên thực tế, rất tiếc là các nhà lãnh đạo và quản lý của tô chức thường bỏ qua vai trò của nguồn nhân lực vì cho rằng nó không phản ánh sự giàu có của đơn vị mình” [6, Tr 5].
*Một thước đo hữu hiệu dé các nhà lãnh đạo có thé xác định được tầm quan trọng của nguồn nhân lực là chỉ phí đề thay thế nhân lực, chẳng hạn như chỉ phí tuyển dụng, sắp xếp lại, giảm năng suất, đào tạo và định hướng. Một thước đo khác là kiến thức, kỹ năng và thái độ của nguồn nhân lực. Những thứ vô hình này cũng có giá trị của nó. Những nhân sự đào tạo bài bản có kỹ năng tốt và trình độ chuyên môn tót sẽ rất có giá trị với tổ chức.
Chính những điều này sẽ góp phần lớn tăng năng suất lao động, hiệu quả hoạt động cũng như thái độ của con người lao động với công việc và tổ chức của mình. Mặc dù hiểu rõ giá trị của nguồn nhân lực nhưng các tổ chức thường thất bại trong. việc phát huy vai trò của nguồn lực này trong tổng thể danh mục tài sản của mình. Chính vì thế nhiều tổ chức đã không nhận ra tầm quan trọng của bộ phát triển nguồn nhân lực, hay không nhận thấy rằng việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ của nhân sự là rất cần thiết để có thể nâng cao được hiệu suất cũng như hiệu quả hoạt động của tổ chức” [6, Tr 5].
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Theo ThS Nguyễn Vân Điềm và GPS. TS Nguyễn Ngọc Quân (Giáo trình quản trị nhân lực- Nhà xuất bản Đại Học kinh tế Quốc dân Hà Nội - 2007) “Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt 1g hoc tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đôi hành vi nghề nghiệp của người lao động” [3, Tr 153]. 1I Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động. học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động.
Các hoạt động có thẻ được cung cấp trong vài giờ, vài ngày, thậm chí vài năm, tùy vào mục tiêu học tập, và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là giáo dục, đào tạo và phát triển [3, Tr 153] 1. Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuyển bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hon trong tương lai [3, Tr 154]. Đào tạo ( hay còn gọi là đảo tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thê thực hiện có hiệu quả hơn chức.
năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao. động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn [3, Tr 154]. Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tô chức [3, Tr 154] Theo PGS.TS Vũ Hoàng Ngân, TS.
Phạm Thị Bích Ngọc (Giáo trình phát triển nguôn nhân lực, nhà xuất bản đại học kinh tế quôc dân 2019) “Phát triển nguồn nhân lực khi xem xét đến vấn đề này, cần phải trả lời 2 câu hỏi : (1) phát triển con người là gì? Và (2) Loại hình phát triển nào của tổ chức đang thực sự hướng tới(Gilley,1989)” [6, Tr 6]. 12 Phát triển con người đề cập đến sự cải thiện hoặc nâng cao về kiến thức, kỹ năng, thái độ của con người nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của tô chức [6, Tr 6]. Khái niệm này đề cập đến sự phát triển cá nhân cũng như phát triển về nghề nghiệp hay sự nghiệp của các nhân sự trong một tổ chức. Xét từ gốc độ phát triển cá nhân, sự phát triển sẽ không thể nào có được.
nếu con người không tham gia vào các hoạt động đào tạo (một cách chính thức hoặc không chính thức) về các kiến thức và kỹ năng mới nhằm cải thiện khả năng lao động của họ. Dĩ nhiên này có thể đạt được nhờ vào kinh nghiệm lao động hàng ngày nhưng sẽ mắt nhiều thời gian và không có sự đảm bảo về kết quả đạt được, thậm chí có thê dẫn đến sự phát triển thiếu hụt hoặc không phù hợp với các kiến thức, kỹ năng và hành vi. Phát triển nguồn nhân lực hướng tới các hoạt động đào tạo mang tính hệ thống, định hướng tới từng, cá nhân nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và cải thiện hành vi. Nói một cách đơn giản, phát triển nguồn nhân lực đề cập tới các hoạt động đào tạo, thực hành, thay đổi nhằm mang lại iệu quả hoạt động như mong muốn của tổ chite (Gilley and Maycunich, 2000) [6, Tr 6].
Ngoài ra phát triển con người trong một tổ chức là nhằm hướng tới nâng. cao hiệu quả hoạt động vì lợi ích của tổ chức, hiệu suất cao hơn, khả năng cạnh tranh tốt hơn và lợi nhuận lớn hơn (quản trị hiệu suất). Cuối cùng sự phát triển ở đây còn để cập tới sự cải thiện không ngừng của tổ chức thông qua các hoạt động can thiệp hướng tới những thay đổi về sứ mệnh, chiến lược, cấu trúc, chính sách và quy trình làm việc, môi trường làm việc, quản lý và lãnh đạo trong tổ chức [6, Tr 6]. Xét từ gốc độ phát triển tổ chức, sự phát triển sẽ không thể diễn ra nếu môi trường làm việc và hệ thống các công cụ tạo động lực không có sự thay nâng cao hiệu suất lao động cũng như tạo ra những nền tảng ban dau 13 cho sự phát triển của tô chức.
Vì vậy, nếu chỉ nâng cao năng lực của người lao. động cũng như cải thiện hành vi của họ thì chưa đủ, tổ chức cần phải cải thiện năng suất lao động và thay đổi cơ cấu tổ chức để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của tổ chức. Đó cũng chính là mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực. Từ đó, chúng ta có thê định nghĩa phát triển nguồn nhân lực là quá trình.
tạo điều kiện cho việc học hỏi, thực hiện và thay đồi hoạt động tổ chức thông. qua can thiệp chính thức và phi chính thức vào hoạt động này, cùng những sáng kiến và hoạt động quản lý với mục tiêu nâng cao khả năng, năng lực, mức độ canh tranh và đổi mới trong hoạt động của doanh nghiệp (Gilley và Maycunich, 2000) [6, Tr 7]. Vì vậy có thể định nghĩa phát triển nguồn nhân lực như là một tập hợp. các hoạt động có hệ thống và kế hoạch của tổ chức nhằm cung cấp cho các thành viên có cơ hội để học tập các kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại và tương lai.
Các hoạt động phát triển nguồn nhân lực được bắt đầu ngay từ khi một người lao động vào tổ chức và tiếp tục quá trình phát triển sự nghiệp, bắt kể họ là lãnh đạo hay nhân viên. Chương trình phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng những thay đôi công việc và hợp nhất kế hoạch dài hạn của tô chức để đảm bảo việc sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả và hiệu suất [6, Tr 7]. Và như vậy, bên cạnh hoạt động đào tạo và phát triển là phần quan trong của phát triển nguồn nhân lực, các hoạt động như huấn luyện, phát triển sự nghiệp, xây dựng nhóm làm việc và phát triển tổ chức là các khía cạnh không thể bỏ qua [6, Tr 7] 1. Nhiệm vụ và mục đích của phát triển nguồn nhân lực Nhiệm vụ của phát triển nguồn nhân lực là: (1) Phát triển cá nhân chú trọng vào công việc hiện tại.
14 (2) Phát triển sự nghiệp chú trọng vào công việc sẽ được phân công trong tương lai. (3) Phát triển hệ thống quản trị hiệu suất để nâng cấp hiệu suất lao động của tổ chức.