Chương 1: Co sở lý luận về việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, “Chương 2: Thiết kế nghiên cứu “Chương 3: Kết quả nghiên cứu “Chương 4: Hàm ý chính sách 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. KTQT là một lĩnh vực còn khá mới mẻ nên có rắt ít các nghiên cứu về vấn đề vận dụng KTQT. Các khái niệm và công cụ của KTQT đang được.
hoàn thiện dần nhằm cung cắp thông tin trợ giúp cho các quyết định quản lý. ên cạnh đó, môi trường kinh doanh đang thay đổi nhanh chong. Dé KTQT trở thành một công cụ hữu hiệu trong tương la, hệ thống KTQT phải được thay đổi, cải tiến để thích ứng với những thay đổi đó. Trong quá tình làm luận văn, tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu sau để phục vụ cho luận văn của mình, Cụ thể như sau: "Nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998) về lợi ích của việc vận dụng các công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT truyền thống và hiện đại) ở Úc.
Nghiên cứu này nhằm xác định mức độ vận dụng KTQT tại các DN ở Úc và kết quả điều tra cho thấy hầu hết các công cụ KTQT được sử. dung tong các DN được khảo sát, và tỷ lệ áp dụng các công cụ KTỌT truyền thống cao hon so với các công cụ KTQT hiện đại. Bên cạnh đó, cũng có công cu KTQT hiện đại được các DN sử dụng rộng rãi như công cụ KTQT dựa trên cca sở hoạt động. Các DN thu được lợi ích từ việc vận dụng các công cụ KTOT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại.
Nghiên cứu cho thấy phần lớn các DN ở Úc chú trọng tới các thông tin phi tài chính thông cqua việc vận dụng các công cụ KTỌT. 'Nghiên cứu của Sulaiman và cộng sự (2004) về việc vận dụng KTQT ở một số nước châu Á đã chỉ ra các công cụ KTQT truyền thống gồm tính giá tiêu chuẩn, phân tích mối quan hệ chỉ phí sản lượng. lợi nhuận, dự toán. Nhung để thành công trong môi trường kinh doanh năng động hiện nay thì các DN cẩn quan tâm đến các công cụ KTQT hiện đại như: chỉ phí mục tiêu, tính giá dựa trên hoạt động, thẻ điểm cân bằng.
để tăng cường khả năng của công ty đáp ứng sự cạnh tranh toàn cầu. Thông qua nghiên cứu này, tác giá còn cho thấy mức độ sử dụng công cụ KTQT truyền thống và công cụ KTQT hiện đại ở bốn nước châu Á: Singapore, Malaysia, Trung Quốc và Án Độ. "Nhìn chung, công cụ KTQT hiện dai không được sử dụng phổ biển tại bốn nước trên, việc sử dụng công cụ KTQT truyền thống vẫn được sử dụng nhiều hơn. "Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về đề tài “Nghiên cứu các nhân tổ ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam”.
Nghiên cứu sử dụng mô hình đo lường và mô hình đa cấu trúc thông qua phần mềm hỗ trợ AMOS, đã cho thấy thực trạng áp dụng KTQT trong các DN Việt Nam, các công cụ KTQT truyền thống được sử dụng nhiều hơn các công cụ KTQT hiện đại tác giảcng phân tích khá chỉ iết mức độ sử dung các công cụ KTQT khác nhau trong các DN, các nhân tổ ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các chính sách góp phần thúc đẩy việc van dung KTQT trong các DN. Mat hạn chế của nghiên cứu này là chủ yếu khảo sát các DN Việt Nam vừa và lớn do đó kết quả nghiên cứu không khái quát được cho tắt cả các DN Việt 'Nam, đặc biệt là các DN nhỏ của Việt Nam. Luận văn của Vương Thị Nga “Nghiên cứu các nhân tổ ảnh hướng đến việc vận dụng công cụ kế toán quản trị truyền thống tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyê Để tài đã nêu rõ cơ sở lý luận v ác công su KTQT truyền thống, các nhân tổ ảnh hưởng đến vi ấp dụng các công cụ KTQT truyền thống tại các DN. Bên cạnh đó, để tài đi sâu vào phân tích mức.
độ vận dung va c nhân tổ ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT truyền thống, qua đó đề xuất các chính sách phù hợp giúp các DNVVN áp dụng tốt các công cụ KTOT truyền thống. Hạn chế của nghiên cửu này mới chỉ nghiên cứu tới KTQT truyền thống mà chưa đỀ cập tới KTOT hiện đại, bên cạnh đó "nghiên cứu này chỉ mới khảo sát ở các DNVVN nên kết quả nghiên cứu này không cquất cho tất cả các DN trên địa bàn Tây Nguyên. Luận văn của Nguyễn Thị Sương "Nghiên cứu mức độ vận dụng kế toán quán tị trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà. Nghiên cứu được thực hiện tại 165 DNVVN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã cho thấy các công cụ KTQT dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán sản xuất, tinh giá theo phýõng pháp toàn bộ có tỷ lệ áp dung týõng Đối cao, còn các công cụ KTQT liên quan đến chức năng đánh giá thành quả, hỗ trợ ra quyết định, chiến lược áp dụng khá thấp trong DNVVN.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy công cụ KTQT truyền thống được áp dụng nhiều hơn so với các công cụ KTQT hiện đại. Nghiên cứu đã chỉ ra một số nhân tố tác động thuận chiều đến mức độ vận dụng các công cụ KTQT bao gồm: cạnh tranh, phân cấp quản lý, trình độ của các đối tượng liên quan đến hoại động KTQT, ứng dụng công nghệ thong tin. KẾt quả nghiên cứu này cho thấy được thực trạng áp dụng KTQT tại các DNVVN trên địa bàn thành phô Đà Nẵng hiện nay, Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là chưa khảo. sát được lợi ích chỉ phí của vi 4p dung KTQT, dữ liệu rong nghiên cứu chỉ khảo sát ở các DNVVN do đó kết quả không khái quát được cho tắt cả các DN 6 Da Ning.
Ngoài ra, luận văn của Lê Thị Quyên "Nghiên cứu các nhân tố ảnh "hưởng đến việc lập dự toán trong các doanh nghiệp ở Đà Nẵng”. Nghiên cứu này được thự hiện nhằm xá định các nhân tổ ảnh hưởng đến việc vẫn dung cđự toán của các doanh nghiệp dựa trên khảo sát 126 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tổ cạnh tranh, năng lực chuyên môn của nhân viên kế toán, phân cẤp quản lý, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin rong việ lấp dự toán là các nhân tổ tác động đến việc vân dụng công cụ dự toán ở các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó một số hàm ý chính sách được đề xuất nhằm thúc đây việc van dụng công cụ dự toán trong DN. Hạn chế của nghỉ cứu này là tác giả mới chỉ tìm hiểu các nhân tổ ảnh hưởng đến việc lập dự toán trong các DN ở' Đà Nẵng, đây mới chỉ là một nội dung của KTỢT.
‘Hau hét các nghiên cứu về vấn đề vận dụng KTQT ở Việt Nam còn rất ft, chi yếu là các nghiên cứu ở phạm vi timg DN chứ ít có nghiên cứu ở diện tông. Mặt khác, nghiên cứu liên quan đến việc vận dụng KTQT tai ede DN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hầu như là chưa có. Do vậy, để tài “Nghiên cứu việc vận đụng kế toán quan trị trong các doanh nghiệp trên địa bàn tinh Bik Lắk" là hết sức cần thiết. Dây chính là những khoảng trống trong nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam.
CHUONG1 CO SO LY LUAN VE VAN DUNG KE TOAN QUAN TRI 'TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. TONG QUAN VE KE TOAN QUAN TRI 1-1-1. Khái niệm, mục tiêu của ké toần quản trị a. Khái niệm Việc nghiên cứu KTQT được xem xét từ nhiều quan điểm và góc độ khác nhau: Theo giáo sư Rober S.Kaplan, trường Đại học Harvard Business Shool(HBS), trường phái KTQT của Mỹ thì kế oán quản là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tô chức mà các nhà quản trị dựa vào.
đó để hoạch định và kiểm soát cái hoại động của tổ chức” Giáo sư H.Bouquin Đại học Paris ~ Dauphin, trường phái KTQT của "Pháp thì cho rằng: “KẾ toán quan tj IA một hệ thống thông in định lượng cung cắp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao”. ‘Theo Homgren (1996), “KTQT là quá trình xác định, gỉ nhận, xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin kế toán nhằm trợ giúp các nhà quản trị trong việc ra quyết định, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” Trong khi đó, Hiệp hội Kế toán viên hợp chủng quốc Hoa Kỳ nhận định: "Kế toán quản trị là quy tình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị để điều "hành các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu qua sử dụng vốn”. “Theo Luật kế toán Việt Nam: “Kế toán quản trị là việc thu thập xử lý phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và “quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Như vậy, có rất nhiều quan điểm về KTQT, tuy nhiên có thể khái quát như sau: KTQT là một bộ phận của kế toán, có trách nhiệm đáp ứng cé nu cầu thông ính và phí tài chính của quản lý kinh doanh với mục dich hỗ trợ tất cả các “quân tị trong việc lập kế hoạch.
r quyết định và kiểm soát các hoạt động của một tô chức, giúp họ đưa ra quy ết định tốt hơn (Drury, 2005) ö. Mục tiêu của KTỌT Để thực hiện các công việc trong quá trình quản lý hoạt động của tổ chức, nhà quản lý cần thông tia. Thông in mà các nhà quản lý cần để thực hiện công việc được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau: các nhà kinh tế, các chuyên gia tài chính, các chuyên viên tiếp thi, sản xuất và các nhân viên KTQT của tổ chức. Hệ thống thông tin KTQT trong tổ chức có nhiệm vụ cung cấp thông tần cho các nhà quản lý đ thực hiền cá hoạt động quản lý.