phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau: Chương l: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ đào tạo Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu 6. Tổng quan tài liệu tham khảo Tài liệu nước ngoài Năm 2004, Sherry et al có bài “Nghiên cứu về kỳ vọng và cảm nhận của sinh viên Học viện Công nghệ UNITEC, Auckland, NewZealand”. Sherry & ctg, đã hành đo lường kỳ vọng và cảm nhận của sinh viên bản xứ và sinh viên nước ngoài về Học viện Công nghệ UNITEC, Auckland, New Zealand với thang đo SERVQUAL 5 thành phan với 20 biến quan sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo đạt độ tin cậy và giá trị tốt với 5 thành phần phân biệt như thang đo gốc.
Tắt cả các khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của 5 thành phần đều âm và có ý nghĩa. Điều này cho thấy UNITEC cần phải cải tiến nhiều để nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục. Nghiên cứu cũng cho thấy chất lượng kỳ vọng của sinh viên trong nước và bản xứ khác nhau không đáng kể nhưng về chất lượng cảm nhận của sinh viên nước ngoài thì thấp hơn nhiều so với sinh viên bản xứ. Khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của sinh viên nước ngoài lớn hơn đáng kể thuộc về thành phần sự cảm thông, sự đảm bảo và sự đáp ứng.
Chua (2004), đã nghiên cứu đánh giá chất lượng giáo dục đại học theo nhiều quan điểm khác nhau: sinh viên, phụ huynh, giảng viên và người sử dụng lao động. Kết quả cho thấy trong hầu hết các thành phần của thang đo SERVQUAL (đồng cảm, năng lực đáp ứng, tin cậy, phương tiện hữu hình, năng lực phục vụ), đối tượng sinh viên, phụ huynh và người sử dụng lao động đều kỳ vọng cao hơn những gì họ nhận được. Riêng đối với giảng viên, sự khác biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng xuất hiện ở thành phần phương tiện hữu hình và năng lực phục vụ. Kích thước mẫu của nghiên cứu này là không lớn lắm: sinh viên - 35 người, phụ huynh - 27 người, giảng viên - 10 người, người sử dụng lao động - 12 người.
Năm 2006, Firdaus Abdullah có bài nghiên cứu “The development of HEdPERF: a new measuring instrument of service quality for the higher education sector”. Dữ liệu đã được thu thập từ sinh viên của sáu đại học các tổ chức trên khắp Malaysia cho giai đoạn tháng 6 tới tháng 8 năm 2003. Tổng số 680 sinh viên từ sáu cơ sở giáo dục đại học đã được khảo sát từ 409 điều chỉnh bảng câu hỏi đã được thu thập, mang lại tỷ lệ đáp ứng 60,1%. Trong số 409 sinh viên trả lời bảng câu hỏi, 64.3% là nữ, và 67,0% là ðwznjpurera (người bản địa của Malaysia).
Tổng cộng 226 hoặc 55,3% số người được hỏi ở độ tuổi 21-35, và phần lớn trong số đó hoặc 90,2% là toàn thời gian. Hầu hết người trả lời hoặc 92,3% đã được đăng ký trong năm thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba của bằng tốt nghiệp chương trình, và gần 188 hoặc 34,7% trong số đó là đăng ký vào quản trị kinh doanh hoặc kỹ sư-chương trình. Đối với đánh giá tổng thể về chất lượng dịch vụ, mức độ hài lòng và lượt truy cập trong tương. lai, phần lớn những người trả lời đã đưa ra quan điểm tích cực của họ với phương tiện ở mức 4.5, tương ứng, trong thang điểm 7 Likert.
Sau những phân tích dữ liệu khoa học và chỉ tiết, tác giả đã thu được một thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục đại học với 41 chỉ báo được gộp. thành 6 nhân t 'ác yếu tố không liên quan đến học thuật, các yếu tố học thuật, sự nôi tiếng của cơ sở đào tạo, khả năng tiếp cận hệ thông, chương trình học, và sự thông hiểu. Tài liệu trong nước Nam 2006, Nguyên Thành Long có đề tài nghiên cứu khoa học “Sử dụng thang do SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tao tại trường ĐH An Giang”. Ngoài việc kiểm định thang đo SERVPERF, nghiên cứu muốn tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên.
Mẫu cho nghiên cứu được lấy từ sinh viên hệ đại học thuộc 4 khoa: Sư phạm, Nông nghiệp - Tài nguyên thiên nhiên, Kỹ thuật - Công nghệ môi trường, Kinh tế - QTKD. Thang đo gồm 35 biến quan sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo đạt độ tin cậy và giá trị tốt. Thang đo chuyển từ đo lường dịch vụ đảo tạo theo hướng đo lường chất lượng phục vụ của các đối tượng được sinh viên tiếp xúc.
Từ năm thành phần nguyên thủy của thang đo SERVPERF hướng đến đặc trưng cung ứng của một gói dịch vụ: (1) Phương tiện hữu hình, (2) Tin cậy, (3) Đáp ứng, (4) Năng lực phục vụ và (5) Cảm thông đã biến thái thành 5 thành phần hướng đến đặc trưng cung ứng của từng bộ phận (đối tượng) cung ứng: (1) Giảng viên, (2) Nhân viên, (3) Cơ sở vật chất, (4) mức Tin cậy vào Nhà trường và (5) sự Cảm thông của Nhà trường. Các phân tích khác biệt cũng cho vài kết quả đáng chú ý. Thứ nhất, đánh giá chất lượng dịch vu dao tao va sự hài lòng của sinh viên nói chung chỉ vừa trên trung bình, nhưng khác biệt có ý nghĩa ở các Khoa và Năm học. Cụ thể xếp thứ tự từ cao đến thấp theo.
Khoa như sau: (1) Sư phạm, (2) Nông nghiệp-Tài nguyên thiên nhiên, (3) Kỹ thuật-Công nghệ môi trường và (4) Kinh tế-Quản trị Kinh doanh. Sinh viên năm thứ II đánh giá chất lượng dịch vụ và hài lòng cao hơn sinh viên năm thứ II. Như vậy, việc sử dụng thang đo SERVPERE đề đo lường chất lượng hoạt động đào tạo là có ý nghĩa thực tiễn trong nghiên cứu này. Các thông tin từ đây giúp nhà quản trị nhìn rõ hơn quan điểm, thái độ và phần nào đó là kỳ vọng của sinh viên đối với các thành tố chính trong hoạt động đào tạo của nhà trường.
Những điểm còn hạn chế của đề tài: việc lấy mẫu thuận tiện theo lớp làm giảm đi tính đại diện của mẫu, chưa nêu được điểm khác biệt trong đánh giá của SV đối với giảng viên cơ hữu của trường và giảng viên thỉnh giảng. Năm 2012, tập thể tác giả Phạm Lê Hông Nhung, Định Công Thành, Nguyễn Khánh Van va Lé Thi Hong Vân có bài nghiên cứu “Kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ trong đào tạo đại học trường hợp nghiên cứu tại các trường đại học tư thục khu vực Đông bằng sông Cửu Long ”. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ phỏng vắn trực tiếp 450 sinh viên ở 3 trường đai học: Cửu Long, Tây Đô và Võ Trường Toản (150 sinh viên mỗi trường) bằng bảng câu hỏi. Tổng mẫu thu về là 475, có 217 mẫu tại đại học Tây Đô (chiếm 45,7%), 93 mẫu tại đại học Võ Trường Toản (chiếm 19,6%), và 165 mẫu tại đại học Cửu Long (c 34,7%).
Qua tiến trình nghiên cứu và phân tích dữ liệu, kết quả thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục đại học tư thục khu vực đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 5 thành phần: (1) hữu hình, (2) đáp ứng, (3) đảm bảo, (4) tin cậy và (5) cảm thông với 24 yếu tố. Các thành phần của thang đo đóng góp thông tin, cơ sở cho hoạt động đánh giá thăm đò ý kiến sinh viên và là cơ sở cho giải pháp nâng cao, cải thiện chất lượng dịch vụ cho các trường đại học tư thục khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đây còn là cơ sở cho các trường đại học tư thục ở các khu vực khác làm nền tảng để xây dựng tiêu chí đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục hơn nữa Những điểm còn hạn chế của đề tài: phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở đối tượng khách hàng là sinh viên, trong khi khách hàng của dịch vụ giáo dục đại học còn là phụ huynh, doanh nghiệp và giảng viên. Năm 2017, tác giả Nguyên Thị Bích Trâm có bài “Nghiên cứu chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng”.
Với 270 bảng câu hỏi được phát trực tiếp cho sinh viên đang học và sinh viên đã tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng, tác giả thu về được 250 bảng câu hỏi hợp lệ. Kết quả cuối cùng cho ra thang đo chính thức được sử dụng đề đo lường chát lượng dịch vụ giáo dục tại Trường CD Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng gồm 6 nhân tố với 30 biến quan sát: Khía cạnh ngoài học thuật, Khía cạnh học thuật, Sự tiếp cận, Chương trình đào tạo, Cơ sở vật chất, Danh tiếng. Các thang đo đều đạt được sự tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị khác biệt. Kiểm định sự khác biệt của các đặc điểm cá nhân đến đánh giá chất lượng đào tạo thì có sự khác biệt về đánh giá sự tiếp cận theo giới tính, ngoài ra không có sự khác biệt.
Mức hài lòng trung bình của các biến đều lớn hơn 3.5, có trật tự như sau: Danh tiếng > Chương trình đào tạo > Ngoài học thuật > Cơ sở vật chất > Học thuật > Sự tiếp cận. Những điểm còn hạn chế của đề tài: Nghiên cứu chỉ mới thực hiện trong phạm vi Trường CĐ Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng nên tính khái quát chưa cao. Đồng thời nghiên cứu mới chỉ đo lường chất lượng dịch vụ đào tạo trên một lận khách hàng của tổ chức đó là sinh viên, cần mở rộng đối tượng nghiên cứu hơn. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHAT LUQNG DICH VU DAO TAO 1.
DỊCH VỤ ĐÀO TẠO. Khái niệm dịch vụ đào tạo Khái niệm dịch vụ giáo dục và đảo tạo có nghĩa rộng (bao quát chung) và nghĩa hẹp (các dịch vụ cụ thể). Nghĩa rộng là, coi toàn bộ hoạt động giáo dục và đào tạo thuộc khu vực dịch vụ. Trong hiệp định chung về Thương mại Dich vu (GATS — General Agreement on Trade in Services) ma Viét Nam da ký kết khi tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đã xếp giáo dục và đảo tạo vào lĩnh vực dịch vụ.
Nghĩa hẹp của khái niệm dịch vụ giáo dục và đào tạo gắn với các hoạt động giáo dục, đảo tạo cụ thể. [8] 'Về khái niệm dịch vụ đào tạo thì hiện nay giữa các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục vẫn chưa thống nhất về việc có hay không tính thị trường, tính hàng hóa của giáo dục tại Việt Nam.