CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE KTQT VA VẬN DUNG KTQT TRONG CAC DOANH NGHIEP 1. TONG QUAN VE KTQT 1-1-1. Khái nigm vé KTQT. C6 quan điểm cho rằng không có định nghĩa chung về KTQT.
Sự phát của KTQT được khám phá trong các định nghĩa thay để từ ba cơ quan hàng đầu của kế toán gồm: Viện KTQT (IMA), Học Viện KTQT Chartered (CIMA) và Liên Đoàn Kế Toán Quốc Tế (AC). KTQT được định nghĩa như là "một nghề có liên quan đến sự hợp tác trong quản trị để ra quyết định, vạch ra kế hoạch và quản trị hiệu quả hệ thống, đồng thời cung cắp chuyên môn trong báo cáo tài chính và kiểm soát để hỗ trợ cquản tị trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược của một tổ chức" (IMA, 2008, p. “Theo tổ chức CIMA, KTQT được định nghĩa là cung cấp thông tn theo yêu cầu của nhà quản tị cho các mục đích như: xây dựng chính sách, lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp; quyết định các hoạt động thay thế, thông tn ra bên ngoài để cho cổ đông và những người khác, thông tn cho.18) cho théy KTOT đã chuyển hướng tới một vai trồ tông lớn hơn IFAC (1998, p.99) định nghĩa KTQT là "quá tình nhận dạng, đo lường, tích lũy, phân tích, trình bày, giải thích, và trao đổi thông ti (cã về tài chính va điều hành) được sử dụng bởi nhà quản tị để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát trong một tổ chức, Nếu như ở một s nước phát triển KTQT đã phát triển rất lâu và đã đạt được những thành tựu lớn cả về ý thuyết cũng như thực tiễn ứng dụng tì ở Việt Nam, thuật ngữ "Kế toán quản trị” mới chỉ được ghi nhận chính thức trong. 10 Luật Kế Toán ban hành vào ngày 17/06/2003.
Ngày 12/06/2006 Bộ tài chính "ban hành thông tư 53/2006/TT ~ BTC, hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp. Theo 46, KTQT được hi là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kính Ế, tài chính theo yêu cầu quản tr và quyết định kinh , tả chính rong nội bộ đơn vị kế toán” 1. Vai trò của KTQT Vai tr của KTOT đối với doanh nghiệp đạc biệt à các nhà quản trị là hỗ trợ họ thực hiện các chức năng cơ bản sau: * Chức năng lập kế hoạch. Để lập kế hoạch đòi hỏi phải nắm được những thông ổn đã xây ra, phối có những phương pháp để phân tích đánh giá tình hình và phải có những công cụ đễ đưa ra những đự báo trong tương lai KTQT sẽ cung cấp thông in về nh.
hình đã xảy ra, cung cấp những công cụ, phương pháp để phân tích đánh giá tình hình và đưa ra dự báo.Vì vậy KTQT giữ một vị trí rất quan trọng trong chức năng lập « Chức năng tổ chức và điều hành “Tổ chức và điều hành là quá trình thực hiện các công việc như: Tổ chức. về nhân sự, phân bổ tài sản, nguồn vồn.Để thực hiện tốt 1g việc trên đòi hỏi phải nắm được thông tin về h hinh hoạt động của từng bộ phận, phái có những công cụ để đánh giá kết quả, hiệu quả của từng bộ phận, từ đó xác định. được trách nhiệm của từng bộ phận, của mỗi cá nhân phụ trách từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn bộ doanh nghiệp. KTQT sẽ cung cấp những thong tin và công cụ để đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động của từng bộ phận phục vụ cho mục dích trên.
Vì vậy KTQT giữ một vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng tổ tức và điều hành. + Chức năng kiém tra Ki tra là quá tình đố chiế, so ính giữa u phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch dé ra nhằm đánh giá tình hình thực hiện hoạch. KTQT có vai trò trong việc hình thành thông tin thực tế và kế hoạch phục vụ cho công tác kiểm tra. Vì vậy nó giữ một vị trí it quan trọng trong việc thục hiện chức năng này.
+ Chức năng ra quyết định 'Nối đúng hơn ra quyết định không phái là một chức năng riêng biệt mà nó là một bộ phận của 3 chức năng trên, bởi vì chính trong quá tình lập kế hoạch, tổ chức — u hành và kiếm tra cũng phái ra quyết định. Qua những phân tích trên, chứng tỏ KTQT giữ một vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng ra quyết định. Người đảm nhận công việc KTQT ngày nay ngoài những kiến thức chuyên ngành, cần phái hiểu được các lĩnh vực chức năng khác nhur marketing, tài chính, quan trị hòa quyện với các quyết định của kể toán thể nào. "Những tiến bộ rong hàng chục năm qua đã làm cho những nhà KTQT có thể trở thành một p trong đội ngũ các nhà quản lý làm gia tăng giá tị của tổ chức.
KTQT mm đời nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để nhà quản trị thực hiện toàn lên các chức năng quản trị theo nhu cầu, cụ thể như sau: ~ KTQT giúp nhà quán trị có tài liệu về mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phân, của doanh nghiệp trong từng thời ky. Từ đó, nhà quản trị thế lập định hướng cho sản xuất kinh doanh để khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của đơn vị. ~ KTQT giúp nhà quản trị nhận biết được tình hình thực hiện, biển động trong thực hiện để đưa ra phương pháp khai thác, kiểm soát, gidi pháp điều chỉnh và đánh giá đúng về trách nhiệm của từng bộ phận. ~ KTQT giúp nhà quán trị đưa ra các quyết định quan tr khoa học, khai thác được tiềm năng kinh tế, tài chính và đảm bảo mục tiêu của đơn vị, 12 1.2, NOI DUNG CAC CONG CY KTQT 1.
Công cụ tính giá Tính i4 thành là một nội dụng có tính xuất phát công việc khác trong kế toán quản tr, vì nó có mỗi quan hệ mật thiết với nhỉ chức năng quản trị, như hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định. Tính giá khong chỉ là việc tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất, mà. á phí của các hoạt động dịch vụ và nhiễu hoạt động khác có như cầu quản tị chỉ phí. "Theo kết quả một số nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy công cu tinh giá theo phương pháp toàn bộ có phần được ưa thích hơn công cụ tính giá theo phương pháp trực tiếp.
Drury và cộng sự (1994) quan sát thấy rằng & 58% các công ty ở Anh thường sử dụng phương pháp tính giá toàn bộ. và ‘Scherrer (1996) cho thy khodng một nửa trong số các công ty ở Đức áp dung công cụ này. "Tại các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều có tỷ lệ vận dụng phương pháp tính giá toàn bộ khá cao, cụ thể tỷ lệ áp dụng công cụ này ở Nhật Bản là khoảng 59% dén 67%, ở Mỹ là khoảng 65% đến 75%, tai Án Độ là gần 50% (Shields và các cộng sự,1991; Szychta,2002; Joshi, 2001) Phương pháp tính giá trực tiếp cũng được vận dụng khá phổ biến tại một số nước trên thể giới. Nghiên cứu của Lukka và Granlund (1996) da chi ra rằng tại Phần Lan có tỷ lệ áp dụng phương pháp tính giá trực tiếp là 42%.
Tỷ lệ áp cdụng công cụ này còn cao hơn tại Anh với tỷ lệ 50% các công ty áp dụng theo. ‘Abdel-Kader va Luther (2006). Các công cụ KTỢT phục vụ chức năng tính giá được các DN sử dụng kha phổ biến có thể kể đến như. Tính giá theo phương pháp toàn bộ Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chỉ phí liên 13 quan đến quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất, được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành.
Đây là phương pháp tính giá truyền thống trong kế toán chỉ phí, dựa trên ý tưởng sản phẩm của quá trình sản xuất là sự kết hợp lao động với các loại tư liệu sản xuất để biến nguyên liệu, vật liệu thành sản phẩm có thể bán được. Vì vậy, giá thành của sản phẩm. tạo ra từ quá trình sản xuất phải dựa trên toàn bộ các chỉ phí để sân xuất sản phẩm đó. ‘Theo phương pháp tính giá toàn bộ, giá thành sản phẩm hoàn thành bao sồm be loại phí: chỉ phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; chỉ phí nhân công trực tiếp và chí phí sản xuất chung.
Cơ sở tính các chỉ phí này vào giá thành được chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho và cả chuẩn mực kế toán Việt nam chấp nhận như là một nguyên tắc khi xác định giá gốc của thành phim DNSX. Sở đĩ phương pháp này được thừa nhận trong kế toán tài chính vì nó tương đổi khách quan trong nhận điện các khoản mục chỉ phí sản xuấi. Phương pháp tính giá toàn bộ được coi như là phần giao thoa giữa kế toán tài chính và kế (oán quản tị. Kế toán tài chính sử dụng phương pháp tính giá toàn bộ nhằm mục đích lập Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vào cuối kỳ kế toán.
Tuy nhiên, trên phương dii quản trí, phương pháp này có thể coi là một cách tính đầy đủ các chỉ phí sản xuất để làm cơ sở định giá bán sản phẩm, đánh giá hiệu quả nội bộ, kiểm soát chỉ phí theo từng trung tâm chỉ phí và ra quyết định. Nếu như kế toán tài chính chỉ quan tâm đến hao phí thực tế để tính giá thành thì vận dụng phương. pháp này trong kế toán quản trị có thé tính theo giá phí tạm tính như trường hợp tính giá thông dụng trong hệ thống tính giá theo đơn đặt hàng, hoặc định mức, giá tiêu chuẩn trong quá trình xây dựng kế hoạch. Chính sự khác biệt này đã nâng tằm kế toán chỉ phí trong hệ thổ kế toán quán tị ở các tổ chức, 4 b, Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp “Tính giá thành theo phương pháp trực p là phương pháp mà theo đó, chỉ có các chỉ phí sản xuất biến đổi iên quan đến sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, nơi sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành.
Phẫn chỉ phí sản xuất chung cố định không được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành. Đây có thể coi là cách tính giá thành không đầy đủ để phục vụ những Xyêu cầu riêng trong quản trị doanh nghiệp. Cách tính này vì thể không liên quan đến thông tin tài chính công bố ra bên ngoài. 'Vấn đề đặt ra là tại sao không tinh đến định phí sẵn xuất chung trong giá thành sản phẩm trong khi các chỉ phí này, đặc biệt là chỉ phí khẩu hao.
'TSCĐ có liên quan rực tiếp đến quá trình sản xuất.