CHƯƠNG 1. CO SO LY LUAN VE KE TOAN QUAN TRI CHI PHI TRONG DOANH NGHIEP SAN XUAT 1.1, TONG QUAN VE KE TOAN QUAN TR] CHI PHi TRONG DOANH NGHIEP SAN XUAT 1. Khái niệm kế toán quản trịchỉ phí toán quản trị là lý thuyết được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trãi cqua thời gian đài được nghiên cứu, kế toán quản trị có rắt nhiều khái niệm tùy vào cách tiếp cận. Theo tác giả Robert S.
Kaplan và Anthony A. Atkinson viết về kế toán quản trị trong cuốn Advanced Management Accounting, Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những người quản lý doanh nghiệp. trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ, Robert S. Atkinson (1998) "Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa kỳ thì Kế toán quản.
trị là quá trình nhận diện, do lường. tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguôn lực của tổ chức đó. Ở Việt Nam, thuật ngữ “Kế toán quản trị" mới được ghi nhận trong Luật KẾ toán ban hành ngày 17/06/2003, theo điều 3 khoản 4 Luật Kế toán Việt Nam: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cắp thong tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính. trong nội bộ đơn vị kế toán”.
'Như vậy, kế toán quan trị là hệ thống thu thập và phân tích các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của nhà quản trị nhằm sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Là một bộ phận của kế toán quản trị, khái niệm kế toán quản trị chi phi có thể được hiểu như sau, kế toán quản trị chỉ phí là quá trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cắp các thông tin vé chi phi cho nhà quản trị thực hiện các. chức năng của mình, như phân tích cách ứng xử của chỉ phí, hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện chỉ phí và hỗ trợ trong. việc ra quyết định.2, Bản chất của kế toán quản trị chỉ phí toán quản trị chỉ phí là một bộ phận của kế toán quản trị, do đó bản chất kế toán quản trị chỉ phí trước hết được thể hiện ở bản chất của kế toán quản trị.
Kế toán quản trị chỉ phí là quá trình định dạng, đo lường, ghỉ chép và cung cấp thông tin chỉ phí. Dưới góc độ của kế toán quản trị, kế toán quản trị chi phí nhắn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý (như tô, đội phân xưởng sản xuất hay bộ phận. quản lý và phục vụ) nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với chỉ phí phát sinh theo nguồn chỉ phí. Do đó, bản chất của kế toán quản trị chỉ phí có thể được trình bày như sau: ~ Kể toán quản trị chỉ phí là một bộ phận trong hệ thống thông tin kế toán, là công cụ quản lý thông qua việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh, hoàn thành và thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, ra quyết định theo yêu cầu quản lý nội bộ của tổ chức.
~ Kế toán quản trị chỉ phí quan tâm đến các loại chỉ phí phát sinh, hay biến động và trách nhiệm quản lý gắn với từng trung tâm chỉ phí. ~ Các thông tin chỉ phí thường mang tính dự báo phục vụ cho việc quản trị tài sản của doanh nghiệp và ra quyết định sản xuất kinh doanh. Vai trò của kế toán quán trị chỉ phí 'Kế toán quản trị chỉ phí được xem là công cụ quản lý, cung cấp thông tin chỉ phí giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng quản lý: hoạch định, tổ chức, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định. Thông tin của kế toán quản trị chỉ phí bao gồm cả những thông tin quá khứ và thông tin mang tính chất dự báo.
Theo từng chức năng quản lý, kế toán quản trị có vai trò cung cắp thông tin cụ thể phù hợp với từng chức năng ~ Cung cấp thông tin cho quá trình hoạch định: thông qua việc cung cấp thông tin về định mức chỉ phí, dự toan chỉ phí sản xuất, dự toan chỉ phí bán. hang, chỉ phí quan lý doanh nghiệp. ~ Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: các thông tin về chỉ phí của từng hoạt động một cách thường xuyên đẻ kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. ~ Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra: các báo cáo hoạt động theo.
từng khâu công việc, báo cáo so sánh kết quả với kế hoạch, các báo cáo kiểm soát chỉ phí. ~ Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định thông qua việc tổng hợp, phân loại, lựa chọn thông tin thích hợp và loại trừ những thông tin không thích hợp. Tom lai, kế toán quản trị chỉ phí giúp các nhà quản trị có thể xem xét, cân nhắc và xác định thông tin phù hợp với từng phương án. Điều này sẽ giải quyết được vấn đề thời gian trong quá trình ra quyết định đồng thời đáp ứng.
được yêu cầu thông tin linh hoạt và đầy đủ của nhà quản trị. Sự phát triển của kế toán quản trị ở nước ta “Trên thế giới, kế toán quản trị ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XIX ở các nước có nên kinh tế thị trường lâu đời như Anh, Mỹ, sau đó phát triển ở các nước châu Âu và các nước có nền kinh tế phát triển ở châu Á như Nhật Bản. Tay vào đặc điểm kinh tế- xã hội của từng quốc gia mà kế toán quản trị được phát triển theo từng giai đoạn khác nhau và nội dung khác nhau phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, cũng như tổ chức quản lý và yêu cầu quản lý. So với thế giới, kế toán quản trị được vận dụng ở Việt Nam từ những.
Tuy nhiên, trước năm 1990, nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, các đơn vị không chịu sức ép từ cạnh tranh nên hệ thống kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chỉ phí nói riêng chưa. Chính sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cùng những thay. đổi chính sách kế toán mà kế toán quản trị được quan tâm nhiều hơn, đến năm 1999, kế toán quản trị mới bắt đầu được nghiên cứu có hệ thống. Ngày 16/01/2006 Bộ tải chính bắt đầu lấy ý kiến về ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện kế toán quản trị.
Ngày 12/06/2006, Bộ Tài Chính ban hành thông tư 53/2006/TT-BTC hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong. Tuy nhiên, do các điều kiện chủ quan và khách quan mà việc vận dụng kế toán quản trị chỉ phí trong các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, 12. CHI PHÍ VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẲN XUẤT 1. Khái niệm chỉ phí Thông tin cung cắp cho kế toán quản trị chỉ phí chính là các thông tin về.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ phí luôn phát sinh và gắn liền với các hoạt động. Do đó, “chỉ phí được định nghĩa là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bô ra nhằm tạo ra các loại tải sản, hằng hóa hoặc các dich vu" [6, 39] Dựa trên quan điểm của kế toán quản trị, chỉ phí được xem là dòng phí tốn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh từ khâu ước tính chỉ phí, tổ chức thực hiện đến kiểm tra và ra quyết định. Phân loại chỉ phí Phân loại chỉ phí phù hợp sẽ cung cấp thông tin một cách diy đủ và chính xác hơn trong việc phục vụ cho mục đích quản trị chỉ phí. Chỉ phí được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh.
và yêu cầu quản lý cũng như từng mục đích sử dụng thông tin, Trong kể toán quản trị, chỉ phí trong các doanh nghiệp sản xuất được phân loại như sau. Phân loại chỉ phí theo chức năng hoạt động. Phân loại chỉ phí theo chức năng hoạt động trước hết cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính. Cung cấp thông tỉn giúp cho nhà quản trị xác định rõ vai trò, chức năng của chỉ phí trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này, chỉ phí bao gồm chỉ phí sản xuất và chỉ phí ngoài sản xuất. + Chỉ phí sản xuất: Là chỉ phí liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ trong một thời kỳ nhất định, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực. tiếp, chỉ phí nhân công trực tiếp và chỉ phí sản xuất chung. = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là các chi phí sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo ra sản phẩm.
Gồm có: chỉ phí nguyên vật liệu chính là chi phí của. nguyên vật liệu cấu thành sản phẩm; chỉ phí nguyên vật liệu phụ là những. nguyên vật liệu có tham gia vào việc cấu thành sản phẩm nhưng có giá trị nhỏ. và không thể xác định cụ thể; và các loại nhiên liệu như dầu, điện .dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình chế biển sản pl - Chỉ phí nhân công trực tiếp: Là tiền lương, phụ cắp lương, và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
= Chỉ phí sản xuất chưng: Là những chỉ phí sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng ngoài hai loại chỉ phí trên. Như, chỉ phí vật liệu phụ phục vụ cho sản xuất tại phân xưởng, tiền lương và các khoản trích. theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chỉ phí khẩu hao, chỉ phí sữa chữa máy móc thiết bị và nhà xưởng, chỉ phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước, bảo hiểm,. ) + Chỉ phí ngoài sẵn xuẤt: ~ Chí phí bán hàng: Là toàn bộ những chỉ phí liên quan đến quá trình tiêu.
thụ sản phẩm, bao gồm các khoản chỉ phí như chỉ phí bốc đỡ, bao bì sản phẩm, lương nhân viên bán hàng, tiền hoa hồng bán hàng, khuyến mãi, quảng. = Chi phi quan lý doanh nghiệp: Các khoản chỉ phí liên quan đến công tác tô chức, quản lý như lương, phụ cắp lương các khoản trích theo lương của cán. 'bộ quản lý và nhân viên văn phòng, khấu hao tài sản cố định phục vụ công tác cquản ý, chỉ phí dịch vụ mua ngoài b.