CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TAC PHAN TÍCH HIEU QUA HOAT DONG TRONG CONG TY CO PHAN 1. CONG TY CO PHAN VA PHAN TICH HIEU QUA HOAT BONG TRONG CONG TY CO PHAN 1. Các khái niệm có liên quan a. Khái niệm Công ty cỗ phần Theo Điểu 77 - Luật doanh nghiệp Việt Nam (sửa đổi và bổ sung 2013): *1.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phan; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cỗ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; ©) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm vẻ các khoản nợ và nghĩa vụ tải sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; đ) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cỗ phần của mình cho. người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. Công ty cỗ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cắp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cỗ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.” Vậy: Công ty cổ phần là một doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần góp vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của.
DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN. Khái niệm về hiệu quá hoạt động. Hiệu quả được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động SXKD. Nói cách khác, bản chất của hiệu quả chính là kết quả của lao động xã hội, được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội.
Do vậy, thước đo hiệu quả của sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả dựa trên các nguồn lực sẵn có. Hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm. nhiều hoạt động. Hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính có.
mối quan hệ qua lại do đó khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cần phải xem xét hiệu quả của hai hoạt động này, bởi lẽ một doanh nghiệp có thể có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không có hiệu quả trong hoạt động tài chính hoặc hiệu quả hoạt động tài chính thấp đó là do các chính sách tài trợ không phù hợp với tỉnh hình chung của doanh nghiệp. Khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì bản thân mỗi doanh nghiệp có một hướng phát triển riêng trong từng giai đoạn cụ thể của mình. Mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp là lợi nhuận và phát triển lâu dải. Các mục tiêu này luôn găn liền với mục tiêu thị phần.
Vì vậy khi đánh giá hiệu quả thì hai yếu tố quan trọng cần phải xem xét là doanh thu và chỉ phí. Theo quan điểm trên thì chỉ tiêu phân tích về hiệu quả cơ bản được tính như sau K= Đầu rà : Đầu vào Trong đó: - K: Hiệu quả hoạt động kinh doanh. ~ Đầu ra bao gồm: các chỉ tiêu liên quan đến giá trị sản suất, DP, Loi nhuận. ~ Đầu vào: thường bao gồm các yếu tố như: VCSH, tài sản Nhu vay hiệu quả hoạt đông của doanh nghiệp được nâng cao khi: đầu vào tăng tương đối so với đầu ra.
Chúng ta có thể cải tiến bộ máy quản lý, sử dụng hợp lý hơn các nguồn nhân lực của doanh nghiệp nhằm mang lại lệu quả hoạt động cao nhất c#ˆ Những chí tiểu đầu vào ~ Tổng tài sản (tổng vốn kinh doanh): Chỉ tiêu tổng tài sản hay còn gọi là tổng vốn kinh doanh phản ánh một cách đầy đủ nhất về quy mô vốn được huy động vào quá trình sản xuất kinh. Tỷ lệ so sánh giữa kết quả sản xuất - kinh doanh và tổng tài sản (tổng. vốn kinh doanh) sẽ giúp đánh giá tổng quát hiệu quả hoạt động kinh doanh ca DN, ding làm cơ sở so sánh hiệu quả này giữa các loại hình DN trong nền kinh tế quốc dân. Nếu chia theo loại tải sản thì có: + Tài sản ngắn hạn: là những tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng.
của DN; có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vồn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong thời gian một năm. Tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền (tiền mặt, tiền gởi ngân hàng, các chứng chỉ có giá trị như tiền, vàng bạc đá quý), giá trị vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các khoản đầu tư tải chính ngắn hạn. + Tài sản dai hạn: là toàn bộ giá trị còn lại của TSCĐ, giá trị chỉ phí xây dựng cơ bản dở dang, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn và các khoản đầu tư tải chính dài hạn cia DN. Nếu chia theo nguồn vốn thì có: + Nguồn VCSH: là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chú DN, của các thành viên trong Công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong Công ty cổ phần.
10 + Nợ phải trả: là tổng các khoản nợ phát sinh mà DN phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm tiền nợ vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn, vay trong nước, vay nước ngoài), các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, các khoản phải trả cho công nhân viên (tiền lương, tiền phụ cấp.) và các khoản phải trả khác. Chỉ tiêu VCSH thể hiện lượng tiền mà nhà đầu tư bỏ ra trong hoạt động kinh doanh để hy vọng đạt được kết quả mong muốn trong tương lai Ty lệ so sánh giữa kết quả sản xuất - kinh doanh và VCSH phản ánh chính xác hiệu quả lượng tiền mà chủ sở hữu đã đầu tư để phát triển DN. ~ Tổng số lao động: Là toàn bộ số lao động do DN quản lý, sử dụng và trả lương, trả công. Con người là nhân tố hàng đầu trong quá trình sản xuất kinh doanh cia moi DN.
Vi vay, lao đông với tính năng động và khả năng sáng tạo sẵn có là yếu tổ đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt đông kinh doanh của mỗi DN. Nguồn nhân lực của một DN được hình thành trên cơ sở của các cá nhân giữ vai trò khác nhau và đươc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của DN là do Ih phẩm chất của con người. s® Những chí tiêu đầu ra.
~ Doanh thu thuần: Là chỉ tiêu kết quả kinh doanh quan trọng đầu tiên của một DN, thể hiện quy mô hoạt động kinh doanh của DN. DT thuần được định nghĩa là tổng thu nhập của DN do tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp các dịch vụ cho bên ngoài sau khi trừ c khoản thuế (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp phải nộp) và trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại) 'Đoanh thu thuần không bao gồm: ul + DT hoat déng tai chinh, + Thu nhập khác: thanh lý, nhượng bán tài sản, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng, thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý. ~ Lợi nhuận trước thuế: Là tổng số lợi nhuận thu được trong năm của DN từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm trước khi nộp thuế thu nhập DN (lợi nhuận trước thuế). Đây là tổng lợi nhuận toàn DN tức là đã được bù trừ giữa các hoạt động có lãi và hoạt động bị thua lỗ.
~ Thủ nhập của người lao động: Là tổng các khoản mà người lao động nhận được do sự tham gia của họ vào quá trình sản xuất - kinh doanh của DN. Thu nhập của người lao động, bao gồm: + Tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cất thu nhập khác có tính chất như lương: gồm tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng. trong lương; các khoản phụ cắp và thu nhập khác của người lao động được hạch toán vào chỉ phí sản xuất, vào giá thành sản phẩm như phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp di lại, ăn giữa ca, trợ cấp thuê nhà và các khoản phụ cấp thường xuyên, không thường xuyên khác cho người lao động. Bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: thực phẩm, đỗ uống, nhiên liệu, áo (trừ quần áo bảo hộ lao động).
+ Bảo hiểm xã hội trả thay lương: là khoản cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ trả cho người lao động của DN trong thời gian nghỉ ốm, thai sản, tai nạn lao động. theo chế độ quy định hiện hành. + Các khoản thu nhập khác không tính vào chỉ phí sản xuất kinh doanh là các khoản chỉ trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chỉ phí sản xuất mà nguồn chỉ lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủ DN hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trén. Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh Để àu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh, cần phân biệt ranh giới iữa hai phạm trù: hiệu quả và kết quả.
quả phản ánh những cái thu được sau một quá trình sản xuất kinh doanh hay một khoảng thời gian sản xuất kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ. cũng là mục tiêu của DN có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị. Kết quả cũng có thế phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh.
doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của DN hay chất lượng của. Hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hoặc giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý rằng trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối như: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực.
Trong thực tí người ta xác định hiệu quả bằng chênh lệch giữa kết quả đầu ra với chỉ phí đầu vào. Đây là một cách hiểu chưa đầy đủ về hiệu quả. '“Chênh lệch giữa kết quả và chỉ phí luôn là số tuyệt đối, nó chỉ phản ánh mức.