CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. TONG QUAN VE DICH VU & DICH VU VIỄN THÔNG 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hiện nay, với nền kinh tế phát triển và các thành tựu khoa học CNTT hiện đại. Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”.
Một số quan điểm nỗi bật về dịch vụ như sau: ịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” (theo Zeithaml & Bitner, 2000). “Dich vu là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng” ( Theo Kotler & Armstrong, 2004). Lưu Văn Nghiêm (2008) cho rằng: "Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bỗ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong. phú hoá, khác biệt hoá, nỗi trội hoá.
mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hải lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [Bùi Thị Tam (2009), Gido trình quản trị du lịch, Nhà xuất bản Đại học Huế] [9]. Do đó có thể hiểu về dịch vụ: là sản phẩm của quá trình sản xuất có tính sáng tạo của con người phát minh ra, có tính cạnh tranh cao, không tồn tại dưới dạng vật chất do một bên cung cấp cho bên khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tư liệu sản xuất và tiêu dùng.
Có yếu tố về phát triển công nghệ, kết quả hoạt động dịch vụ là vô hình và nên có tính ràng buộc của pháp luật.2 Đặc điểm của dịch vụ: Cụ thể là các đặc trưng sau: - Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa rằng người ta không thể thấy, ném, cảm, nghe hay ngửi được dịch vụ trước khi mua. Để giảm thiểu sự bất an, khách mua tìm kiếm “các dấu hiệu” về chất lượng dịch vụ. Do đó, nhiệm vụ của nhà cung cấp dịch vụ là làm cho dịch vụ trở nên hữu hình bằng cách này hay cách khác. Trong khi các nhà tiếp thị sản phẩm có gắng tăng cường các tính vô hình cho những cống hiến hữu hình của mình, thì các nhà tiếp thị dịch vụ nỗ lực bổ sung các hữu hình cho những công hi vô hình của mình.
- Dịch vụ có tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng. Trong quá trình cung cấp dịch vụ người ta không thể chia tách dịch vụ với người cung cấp chúng, cho dù người cung cấp đó là người hay là máy. Nếu một nhân viên dịch vụ cung cấp dịch vụ làm công, thì nhân viên đó là một phan của dịch vụ. Bởi khách hàng cũng có mặt khi dịch vụ được sản xuất, nên tương tác giữa nhà cung cấp và nhà tiêu dùng là một đặc trưng chuyên biệt của dịch vụ.
Cả người cung cấp lẫn khách hàng cùng ảnh hưởng đế: t quả của dịch vụ. Trong trường hợp dịch vụ giải trí và chuyên môn, người mua rất để ý đến bên cung cấp dịch vụ, họ có đảm bảo uy tín và chất lượng hay không. - Tính không đồng đều về chất lượng Chất lượng dịch vụ trước hết phụ thuộc vào người tạo ra chúng. Vì những người tạo ra sản phẩm dịch vụ có khả năng khác nhau và trong những điều kiện môi trường, hoàn cảnh, trạng thái tâm sinh lý khác nhau nên có thể dẫn đến chất lượng không giống nhau nhất là trong điều kiện không được tiêu chuẩn hoá.
Hơn nữa chất lượng dịch vụ lại phụ thuộc vào sự cảm nhận của người sử dụng dịch vụ thế nên việc tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng nảy sinh nhiềt đề khó khăn hơn so với những sản phẩm hữu hình. Do vậy, doanh nghiệp cần nghiên cứu rõ tâm lý khách hàng đẻ làm sao phục vụ tốt nhất, đồng thời phải tổ chức được đội ngũ nhân viên có trình độ và nhạy cảm nắm bắt được tâm lý khách hàng đề phục vụ đảm bảo chất lượng. ~ Tính không lưu trữ được Tính không lưu trữ được của dịch vụ có nghĩa rằng người ta không thể cất trữ dịch vụ để bán hay sử dụng về sau. Dịch vụ không trữ được như vậy việc sản xuất, mua bán và tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian.
Cũng từ đặc điểm này mà làm mắt cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần hoặc trong năm. Tính không lưu trữ được của dịch vụ không trở thành vấn đề nếu nhu cầu bìnÌ. Nhưng khi nhu cầu có sự biến động, các doanh nghiệp dịch vụ thường gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn, các doanh nghiệp vận chuyển công cộng phải có thêm nhiều phương tiện hơn so với lúc nhu cầu diễn ra đều đều trong suốt cả ngày.
- Tinh không chuyển đổi sở hữu Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ nhân hàng hóa mình đã mua. Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong. một thời gian nhất định mà thôi. Theo đó thì người bán buôn, bán lẻ cũng không được chuyển quyền sở hữu, họ đơn thuần chỉ là người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ.
Vì những đặc trưng này sẽ dẫn đến sự khác biệt của nội dung marketing dịch vụ sẽ khác so với marketing hàng hóa hữu hình. Dịch vụ viễn thông- công nghệ thông tin *Khái niệm dịch vụ VT-CNTT là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệt liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối thông qua mạng viễn thông công nghệ thông tin. Kết quả là sản phẩm vô hình, khác với đặc điểm của sản phẩm hữu hình. Dịch vụ viễn thông là kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ, sản phẩm của nó không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể.
Dịch vụ VT- CNTT là loại hình dịch vụ mang giá trị thỏa mãn cho người sử dụng địch vụ VT- CNTT như gọi điện thoại, lướt internet, xem tỉ vi, các dịch vụ giá trị gia tăng và các công dụng dịch vụ phần mềm CNTT. *Đặc điểm dịch vy VT - CNTT: Dịch vụ VT- CNTT là sản phẩm vô hình, khác với đặc của sản phẩm hữu hình. Cụ thể như sau: - Dịch vụ VT- CNTT rất khác với các sản phẩm của ngành sản phẩm. công nghiệp, nhiệm vụ của dịch vụ viễn thông là truyền thông tin nhanh, chính xác, có tính an toàn bảo mật cao, đáp ứng chất lượng cao các nhu cầu thông tin của con người.
- Mối quan hệ liên quan mật thiết giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, với dịch vụ VT - CNTT khi khách hàng có nhu cầu thì mới diễn ra hoạt động dịch vụ và khi thông tin gửi đến người nhận cũng là lúc người nhận tiêu thụ sản phẩm hay quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm diễn ra đồng thời, với đặc điểm này nếu dịch vụ tạo ra với chất lượng xấu sẽ gây tác hại rất lớn với người tiêu dùng. Từ đặc điểm này rút ra yêu cầu về chất lượng dịch vụ VT- CNTT phải đạt cao nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay người tiêu dùng. Hơn nữa, sử dụng dịch vụ viễn thông người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm xác định của nhà cung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ. ~ Với tác dụng truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó có tính không đồng đều về thời gian và địa điểm.
Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc. 10 vào nhịp độ sinh hoạt của người sử dụng, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các giờ cao điểm dung lượng sử dụng khách hàng cao, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn. điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cắp dịch vụ VT- CNTT phải dự trữ đáng kế năng lực sản xuất và lực lượng lao động. Từ những đặc điểm cụ thẻ trên chúng ta thấy được các đặc thù của một dịch vụ VT-CNTT khác với sản phẩm dịch vụ khác: - Sự khác biệt so với sản phẩm ngành công nông nghiệp, nơi mà tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học,.), còn trong sản xuất viễn thông, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian.
Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễn thông được biến đôi thành các tín hiệu thông tin điện tử viễn thông, thì ở các nơi nhận tín hiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay đổi thông tin, đều có nghĩa là sự méo mó, mắt đi giá trị sử dụng. và dẫn đến tồn thắt lợi ích của khách hàng. - Kết quả dịch vụ VT-CNTT là quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin.
Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ có độ tin cậy, rộng khắp. ~ Dịch vụ VT ~ CNTT là phụ thuộc vào sự cảm nhận, sự đánh giá của khách hàng. Còn khi dùng sản phẩm hàng hóa khác thì thể hiện qua các khướu thị xúc giác, bằng các kiểm chứng về sản phẩm cụ thể. Hàng hoá cụ thể được sản xuất, rồi được cất trữ, được buôn bán về sau và mới được tiêu thụ về sau nữa.
Trái lại, dịch vụ VT-CNTT được bán dùng thử trước, rồi mới được sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Quá trình sản xuất VT- CNTT mang tính dây chuyền.