CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUON NHAN LUC 1,1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, đặc trưng nguồn nhân lực a. Khái niệm nguồn nhân lực Có thể nói, khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có thể nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số khái niệm như sau: Theo quan điểm kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên của quốc gia hoặc một tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ mô đó là nguôn lực xã hội, ở tẩm vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên trong tổ chức vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó.
Từ góc độ hạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chỉ phí của nguồn vốn lao đông trong sản phâm sản xuất ra Theo tổ chức Liên Hợp quốc thì: “Nguồn nhân lực là tắt cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực, thể lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [20, tr31] Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân có thể tham gia vào phát triển quốc gia một cách trực tiếp hoặc tiềm năng [2I, tr. L5], Nhu vậy ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tông thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một dia phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia mộicông việc lao động. nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Tác giả Nguyễn Tiệp cho rằng: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thé giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội” [L7, tr7] “Tại giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học kinh tế quốc dân thì nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vat chat va tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [13, tr. Theo cách hiểu này thì nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng. như trong tương lai. “Trong doanh nghiệp, theo tác giả Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” xuất bản năm 2006 “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong.
danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [10, tr.72] Tóm tại, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người có khả năng tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội trực tiếp và các thế hệ những người sẽ tiếp tục tham gia vào phát triển kinh tế xã hội (tiềm năng). Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn bao gồm cả yếu tố thê lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ lao. động và phong cách làm việc của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia tham gia hoặc có khả năng tham gia sử dụng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Từ những quan niệm trên, có thể định nghĩa “Nguồn nhân lực là tổng.
thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí vẻ trí lực, thể lực và những phẩm chắt đạo đức, tình thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sắng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội ”. Đặc trưng nguôn nhân lực Đặc trưng về số lượng: Xét trong phạm vi một tổ chức thì số lượng nguồn nhân lực là tổng số người được tổ chức thuê mướn, được trả công và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức. Xét trong phạm vi quốc gia thì số lượng nguồn nhân lực hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực đó là các yếu tố về tỉnh thần, thẻ lực và trí lực.
Thể lực của nguồn nhân lực Một trong những tiêu chí nói lên chất lượng nguồn nhân lực là tình trạng thể lực của người lao động, bao gồm các yếu tố như chiều cao, cân nặng, sức khỏe. Các yếu tố này phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện như: Mức sống, thu nhập, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế và các dịch vụ khác Trình độ của nguồn nhân lực: Nhân tổ trí lực của nguồn nhân lực thường được xem xét đánh giá trên 10 hai góc độ: trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật va kỹ năng thực hành của người lao động Về trình độ văn hoá. Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là trình độ văn hoá nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Trình độ văn hoá là khả năng vẻ tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản đề duy trì cuộc sống.
Trình độ văn hoá là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ. thuật, dio tạo và tái đào tạo nghề nghiệp. Vì vậy, công tác giáo dục đào tạo đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao trình độ dân trí và trình độ học vấn cho người lao động để theo kịp với thực tế phát triển của nền kinh tế Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức và kỹ năng cẩn thiết để đảm nhiệm các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho. tổ chức mà mình làm việc.
Lao động kỹ thuật bao gồm những công nhân kỹ thuật từ bậc 3 trở lên (có bằng hoặc không có bằng) cho tới những người có trình độ trên đại học. Một lực lượng lao động đông đảo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là đòi hỏi hàng đầu và là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công. nghiệp hoá, hiện đại hoá đắt nước. Nâng tỷ lệ người được dao tạo ở các ngành nghề lên 40% so với hiện nay mới chỉ đạt ở mức 219.
Về phẩm chất tâm lý, xã hội của nguôn nhân lực: Ngoài yếu tố thể lực, trí lực ra thì quá trình lao động đòi hỏi người lao động hàng loạt các phẩm chất khác như tính kỷ luật, tự giác, có tỉnh thằn hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao trong. công việc mà họ đảm nhận. Đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp a. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Dao tao (hay còn được gọi là dao tạo kỹ năng), được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thê thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập đẻ nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động dé thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Đào tạo nguồn nhân lực là một quá trình cung cấp cho người lao động cách nghĩ, thông tin và kỳ năng giúp họ nâng cao hi suất công vi: trọng điểm của công tác này là bằng phương pháp và lý luận có thống khơi dậy toàn bộ tiềm lực của người lao động trong doanh nghiệp giúp họ nắm chắc tiền đồ và tài năng của mình. Nó không chỉ hướng dẫn cho người lao động mới vào việc hay đêm đến cho những người lao động còn thiếu kỹ năng. một cơ hội học tập, mà nó còn là sự phát triển của doanh nghiệp phù hợp với triết lý kinh doanh và chiến lược của doanh nghiệp.
Đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách, năng lực của người được đào tạo. Nhu vay, ta có thể khái quát được khái niệm đào tạo nguồn nhân lực từ những quan điểm trên “Đảo tạo nguồn nhân lực là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn. Mục đích đào tạo nguồn nhân lực Mục đích chung của đào tạo nguồn nhân lực là sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho 12 người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn vẻ nghề nghiệp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tốt hơn. Hiện nay các doanh nghiệp đã chú trọng việc đảo tạo nguồn nhân lực vi những lý do và tác dung sau day: ~ Đề chuẩn bị và bù đắp vào những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống.
Sự bù đắp và bỗ sung này diễn ra thường xuyên nhằm làm cho doanh nghiệp hoạt động.