CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực a. Khái niệm nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực của một tô chức được hình thành trên cơ sở cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tô chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với những hoạt động.
của cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động môi trường xung quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. (Trần Kim Dung, 2007) Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bắt cứ đặc điểm nào khác của người lao động. Như vậy để xác định nguồn nhân lực, phải xác định các thông tin cá nhân về định lượng và định tính dưới nhiều khía cạnh khác nhau, thường phải xác định quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo các đặc điểm.
khác nhau như giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề, theo các đặc điểm về kinh nghiệm, kỹ năng và ngoài ra còn có những mô tả về sự tận tâm, tiềm năng. của người lao động trong tô chức. Đào tạo nguồn nhân lực Dao tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn vẻ công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động của mình có hiệu quả hơn.
(Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007) Đào tạo nhân lực là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thẻ thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. Đào tạo gắn liền với quá trình học tập và giảng dạy. Nếu quá trình dao tao không có giảng day thi quá trình đó gọi là sự đào tạo do người học tự học tập nâng cao trình độ của mình thông qua các tài liệu sách báo và thực tế hoạt động. (Trin Xuân Cầu, 2012, trang 17) 'Đào tạo là tiến trình với nỗ lực cung cấp cho nhân viên những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu.
Thêm vào đó, đào tạo được thiết kế dé giúp đỡ, hỗ trợ nhân viên tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức. Carell và cộng sự cho rằng có hai loại đào tạo: “dao tao chung và đào tạo chuyên môn. Đào tạo chung được áp dụng để nhân viên có được những kỹ năng sử dụng được ở mọi nơi. Ví dụ: nâng cao khả năng đọc, viết, tính toán.
có thể giúp ích cho nhân viên trong mọi công việc. Đảo tạo chuyên môn được. áp dụng để cho nhân viên có được các thông tin và kỹ năng chuyên biệt, áp dụng cho công việc của mình tại nơi làm việc. Ông cho rằng khái niệm đào tạo được sử dụng trong trường hợp các nhân viên (không phải quản trị gia) học tập, lĩnh hội được các kiến thức, kỹ năng kỹ thuật thuần túy.
Chẳng h: chương trình đảo tạo cho các nhân viên máy in là chú trọng lên các vắt giúp cho người hành nắm được các kỹ thuật mới nhất về tốc độ và mức. chính xác trong khâu in ấn. Theo Cenzo và Robbins, “Đào tạo là tiến trình bao gồm những phương. pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành.
Tuy nhiên đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp cá nhân có ngay các kỹ năng. cần thiết để thực hiện tốt các công việc hiện tai. Theo Cherrington, “Giáo dục mang tính chất chung, cung cấp cho học viên các kiến thức chung có thể sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau, đảo tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể. Còn phát triển liên quan đến việc nâng cao khả năng.
trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hon.” (Cherrington, 1995, trang 18) Ở nước ta còn phân biệt khái niệm đào tạo với khái niệm bồi dưỡng. Thực chất bồi dưỡng là một hình thức đào tạo ngắn hạn (vài ngày đến vài tháng) có mục tiêu nâng cao kiến thức, kỹ năng của người học đáp ứng với yêu cầu của công việc đang làm hoặc chỉ đơn thuần để cập nhật kiến thức cho họ. Như vậy, đào tạo nguằn nhân lực là quá trình giảng dạy, hướng dẫn, bỗi dưỡng, học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng của người lao động, giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Mục đích đào tạo nguồn nhân lực Mục đích chung của đào nguồn nhân lực là sử dụng tối đa các nguồn lực, nâng cao các nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm ving những nghề nghiệp và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn với thái độ tốt hơn cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với công việc trong tương lai. Đào tạo nguồn nhân lực nhằm mục đích nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó tại tổ chức, thực chất của công tác đào tạo nguồn nhân lực. là nâng cao năng lực và động cơ của người lao động. 'Những mục tiêu cơ bản của đào tạo nguồn nhân lực của tổ chức: ~ Tính hữu hiệu của chương trình dao tạo: Liệu những người được đảo tạo có học hỏi được những kỹ năng hay có được những kiến thức hoặc khả năng trong quá trình đảo tạo không? ~ Tính hữu hiệu khi thuyên chuyển: Liệu những kiến thức, kỹ năng hoặc khả năng học được trong quá trình đào tạo có giúp cải thiện hiệu quả công việc không, ~ Tính hữu hiệu bên trong tổ chức: Liệu hiệu quả công việc của nhóm những người mới được đào tạo trong cùng một tổ chức có bằng với hiệu quả công việc của những nhóm đã được đảo tạo trước đây hay không? - Tinh hữu hiệu bên ngoài tổ chức: Liệu một chương trình đào tạo có hiệu quả trong công ty này có thể áp dụng thành công trong công ty khác hay không? 1.Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Dao tạo nhân lực là chìa khóa phát triển bền vững một doanh nghiệp.
Nó đóng vai trò then chốt trong việc tăng lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của người lao động. Cụ thể: Đối với doanh nghiệp: Đào tạo nhân lực giúp nâng cao trình độ, nhận thức, năng lực làm việc của người lao động đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức trong việc nâng cao hiệu suất công việc. "Đào tạo nhân lực tạo ra lợi thé cạnh tranh cho doanh nghiệp, tạo cơ hội cho người lao động tiếp cận công nghệ mới. Trong thời đại công nghệ 4.0, các 10 doanh nghiệp muốn nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm thì phải luôn cập nhật, đổi mới công nghệ, bắt kịp xu thế.
Và để đáp ứng được yêu cầu đó doanh nghiệp cần phải có một đội ngũ kĩ sư, kĩ thuật viên am hiểu và vận hành được máy móc, kỹ thuật đó. Đào tạo nhân lực còn giúp duy trì và nâng cao chất lượng của lực lượng lao động, từ đó tính ôn định và năng động của doanh nghiệp được nâng cao. Có thẻ thấy, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho kĩ thuật, công nghệ càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn. Đối với người lao động: Đào tạo nhân lực không chỉ giúp người lao động nâng cao trình độ, kĩ năng mà còn làm tăng khả năng tiếp cận, thành thạo nhanh hơn với công việc; giúp họ tăng tính chuyên nghiệp, tính kỷ luật, trau dỗi những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết.
Từ đó tạo sự thích ứng giữa người lao động với công việc hiện tại cũng như tương lai; từ đó gắn bó chặt chẽ với doanh nghiệp, tỗ chức, tránh được sự đảo thải trong quá trình phát triển của tô chức. Nền kinh tế thị trường cạnh tranh mạnh mẽ những năm gần đây đòi hỏi các tổ chức và cộng đồng kinh doanh cần nhận thức đúng đắn hơn về đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị trong doanh nghiệp bởi đây sẽ nguồn chất xám, tạo ra yếu tố then chốt đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Đối xã hội: Công tác đảo tạo và phát triển năng lực của người lao động, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đảo tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước phát triển mạnh trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật. Sự phát triề nguồn " nhân lực của các doanh nghiệp chính là yếu tố tích cực thúc đã) phát triển.
NỘI DUNG ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TÔ CHỨC Đào tạo nguồn nhân lực là một quá trình có hệ thống và phức tạp, là công tác có tính lâu dài và thường xuyên. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đào tạo toàn diện và bao quát toàn bộ quá trình, khai phát tiềm năng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm chắc chắn mục tiêu và hiệu quả của tổ chức. Thông thường một tiến trình đào tạo bao gồm các bước sau: Bảng 2.1: Trình tự xây dựng một chương trình đào tạo STT 'Các bước Diễn giải 1 Đánh giá nhu câu đào tạo 121 5 Xác định mục tiêu đào tạo và đối 122 tượng đảo tao 3 “Xác định chương trình đào tạo và lựa a chọn phương pháp đào tạo. 4 Lựa chọn giáo viên 124 3 Dự toán chi phi dio tao 125 6 Đánh giá kết quả đào tạo 126 1.
Đánh gi: nhu cầu đào tạo.