phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị chi phí tại VNPT Bình Định. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị chi phí tại VNPT Bình Định. e 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Chi phí trong doanh nghiệp 1. Khái niệm chi phí Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải sử dụng và làm tiêu hao các yếu tố đầu vào nhƣ nguyên vật liệu, lao động, tài sản cố định. hay còn gọi là nguồn lực kinh tế của một doanh nghiệp. Sự tiêu hao các yếu tố đầu vào hình thành nên chi phí.
Chi phí lại chính là kết quả của các quyết định quản trị nhằm đáp ứng những yêu cầu kinh doanh, và kết quả, hiệu quả hoạt động gắn liền với kết quả, hiệu quả của quản lý và kiểm soát chi phí. Việc nhận thức chi phí là tiền đề để kiểm soát và định hƣớng hoạt động SXKD. [13] Chi phí đƣợc xem là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học. Theo VAS 01: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dƣới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dần đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo Huỳnh Lợi (2009), cách tiếp cận theo quan điểm chi phí của chuẩn mực kế toán cho thấy chi phí là những phí tổn phát sinh làm giảm nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp đang kiểm soát gắn liền với hoạt động SXKD và tác động giảm vốn chủ sở hữu (không phải do hoàn trả vốn). [9] Theo Horngren và cộng sự (2006), chi phí phản ánh giá trị nguồn lực mà đơn vị kinh doanh chấp nhận từ bỏ để đạt mục tiêu nào đó, nhƣ mua hàng hay dịch vụ. Thuật ngữ “chi phí” có nhiều cách nhìn nhận khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau. [17] Theo Nguyễn Thị Phƣơng Loan (2016), chi phí là hao phí tài nguyên (kể cả hữu hình và vô hình), vật chất, lao động; Những hao phí này gắn liền với mục đích SXKD; Phải định lƣợng đƣợc bằng tiền và đƣợc xác định trong một e 8 khoản thời gian nhất định.
[8] Tóm lại, chi phí là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ. Phân loại chi phí Các cơ sở phân tích và phân loại chi phí cơ bản bao gồm: Theo thời gian Khi phân tích theo thời gian, chi phí đƣợc phân chia thành chi phí lịch sử (chi phí quá khứ) và chi phí kế hoạch. [7] - Chi phí lịch sử (chi phí quá khứ): là các chi phí đã thực tế phát sinh, nhƣ mua hàng hóa, dịch vụ; hay các chi phí đã sử dụng trong kỳ,. - Chi phí kế hoạch: là các chi phí dự kiến sẽ xảy ra trong (các) kỳ sắp tới, là cơ sở hoạch định nguồn lực và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu đề ra, nhƣ kế hoạch chi phí phát sinh cho hoạt động quảng cáo, bán hàng,.
Theo mối quan hệ giữa chi phí phát sinh với mức độ hoạt động Khi phân tích mối quan hệ giữa chi phí phát sinh với mức độ hoạt động, chi phí đƣợc phân chia thành định phí, biến phí, chi phí hỗn hợp. [7] - Định phí: là chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp. Định phí đơn vị thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Ví dụ khi đơn vị chọn phƣơng pháp tính khấu hao theo đƣờng thẳng, thì chi phí khấu hao trong kỳ đó là định phí, nếu số lƣợng sản phẩm sản xuất trong kỳ càng nhiều, định phí đơn vị sẽ nhỏ dần và ngƣợc lại.
- Biến phí: thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Biến phí đơn vị không đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Giả sử mức tiêu hao sản xuất một cái áo mất một mét vải thì khi số lƣợng áo sản xuất càng nhiều, tổng lƣợng vài tiêu hao càng lớn. Hay khi chọn phƣơng pháp khấu hao theo sản lƣợng, chi phí khấu hao của từng đơn vị sản lƣợng là biến phí, chi phí khấu hao trong kỳ bằng chi phí khấu hao đơn vị nhân với số lƣợng sản phẩm sản xuất ra.
e 9 - Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà trong nó vừa có yếu tố định phí và biến phí. Trong quá trình tính toán, phân tích số liệu, chi phí hỗn hợp phải đƣợc tách riêng thành định phí, biến phí theo các phƣơng pháp phù hợp. Theo chức năng hoạt động Khi phân tích chi phí theo chức năng hoạt động, chi phí đƣợc phân chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.[7] - Chi phí sản xuất là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất tạo thành phẩm. Chi phí sản xuất bao gồm hai nhóm cơ bản: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí trực tiếp là các chi phí tính đƣợc trực tiếp cho từng đối tƣợng tính chi phí, nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí gián tiếp là các chi phí không tính đƣợc trực tiếp cho từng đối tƣợng tính chi phí, nhƣ chi phí sản xuất chung. Các chi phí này đƣợc phân bổ cho từng đối tƣợng tính giá thành trên cơ sở phân bổ chi phí liên quan. Theo phƣơng pháp truyền thống, cơ sở phân bổ chi phí chỉ có một hoặc hai cơ sở (số giờ lao động trục tiếp, chi phí trực tiếp, .) nên kết quả tính giá thành đạt mức độ chính xác nhất định.
Hiện nay, khi chi phí sản xuất chung chiếm tỷ trọng lớn (từ hơn 50% tổng chi phí sản xuất), các đơn vị kinh doanh bắt đầu chuyển sang sử dụng phƣơng pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động ABC (Activities based costing) để kết quả tính chi phí chính xác hơn. - Chi phí ngoài sản xuất là các chi phí phát sinh để đƣa hàng hóa vào quá trình lƣu thông, bao gồm chi phí phục vụ bán hàng và quản lý. Theo khả năng kiểm soát Căn cứ vào khả năng kiểm soát đối với một khoản mục chi phí, chi phí đƣợc phân loại thành chi phí kiếm soát đƣợc và chi phí không kiểm soát đƣợc. [7] - Chi phí kiểm soát được (controllable costs) là những chi phí mà nhà quản lý có thể xác định đƣợc chính xác mức phát sinh của chi phí trong kỳ, e 10 đồng thời nhà quản lý cũng có quyền quyết định về sự phát sinh của nó, Ví dụ: chi phí thuê nhà, chi phí tiếp khách, chi phí lƣơng nhân viên trong bộ phận của nhà quản lý.
- Chi phí không kiểm soát được (noncontrollable costs) là những chi phí mà nhà quản lý không thể dự đoán chính xác mức phát sinh của chi phí trong kỳ và sự phát sinh của nó vƣợt quá tầm kiểm soát, quyết định của nhà quản lý, Ví dụ: chi phí cấp trên phân bổ đối với nhà quản lý ở bộ phận. Khi phân tích để ra quyết định kinh doanh, nhà quản lý cũng cần xác định thông tin liên quan và không liên quan. - Thông tin liên quan là các thông tin dự báo chi phí và doanh thu mà có sự chênh lệch giữa các phƣơng án xem xét. - Khi không có chênh lệch về doanh thu hay chi phí giữa các phƣơng án xem xét thì thông tin đó thƣờng là thông tin không liên quan.
Tóm lại, chi phí phát sinh trong mọi hoạt động của đơn vị kinh doanh, từ khi thành lập cho đến khi kết thúc hoạt động. Trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay, các đơn vị kinh doanh đều hƣớng tới khách hàng, phân tích các chi phí phát sinh trong chuỗi giá trị, cố gắng thỏa mãn và gia tăng lợi ích kinh tế cho khách hàng nhƣng vẫn phải đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, kiểm soát tốt các chi phí phát sinh. Theo chuỗi giá trị Các chi phí phát sinh trong phân tích chuỗi giá trị nhƣ Bảng 1. Khi phân tích chi phí theo chuỗi giá trị, chi phí đƣợc phân loại theo từng bộ phận phát sinh chi phí đó.
Đây cũng chính là nền tảng cho việc phân loại chi phí chi tiết, từ đó lựa chọn đƣợc cơ sở phân bổ chi phí phù hợp để tính toán chính xác chi phí cho từng đối tƣợng tính chi phí, cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị ra quyết định. Các chi phí phát sinh trong chuỗi giá trị Các hoạt động Minh họa các chỉ phí phát sinh liên quan trong chuỗi Nghiên cứu và • Chi phí lƣơng nghiên cứu, khảo sát nhu cầu thị phát triển trƣờng • Chi phí lƣơng của kỹ sƣ nghiên cứu thiết kế và chế tạo sản phẩm nghiên cứu Thiết kế sản • Chi phí lƣơng của kỹ sƣ thiết kế sản phẩm, dịch vụ phẩm, dịch vụ hay quy trình • Chi phí máy móc thiết bị liên quan • Chi phí phát triển, kiểm tra sản phẩm, dịch vụ hay quy trình Sản xuất • Chi phí lƣơng bộ phận trực tiếp sản xuất • Chi phí lƣơng bộ phận gián tiếp tham gia sản xuất • Chi phí khấu hao • Chi phí năng lƣợng Tiếp thị • Chi phí quảng cáo • Chi phí lƣơng, đi lại, giao tếp của bộ phận tiếp thị Phân phối • Chi phí lƣơng của bộ phận phân phối • Chi phí khấu hao của trang thiết bị, phƣơng tiện phục vụ cho hoạt động phân phối Dịch vụ sau bán • Chi phí lƣơng của bộ phận dịch vụ sau bán hàng hàng • Chi phí vật tƣ, đi lại của bộ phận dịch vụ sau bán hàng (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) 1. Phân tích chi phí trong doanh nghiệp 1. Vai trò của phân tích chi phí Phân tích chi phí có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ thuộc hệ công cụ quản lý kinh tế, thông qua đó nhà quản trị doanh nghiệp thấy rõ hiện trạng tình hình SXKD trong kỳ, những ƣu nhƣợc điểm của việc điều hành SXKD cũng nhƣ những nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ đó có biện e 12 pháp xử lý kịp thời và ra quyết định chính xác.