phần mở đầu, kết luận, tài liệu, phụ lục thì gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lý vốn kinh doanh tại công ty cổ phần hóa chất Việt Trì Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn kinh doanh của công ty cổ phần hóa chất Việt Trì 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số lý luận cơ bản 1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm Vốn kinh doanh là một trong những yếu tố cơ bản không thể thiếu đƣợc của bất kỳ giai đoạn nào trong một quá trình SXKD tại bất kỳ doanh nghiệp nào.
Vậy, VKD là gì? Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về VKD. Tại những thời điểm và những góc độ nhìn nhận khác nhau có những quan điểm khác nhau về VKD. Samuelson – một nhà kinh tế học của trƣờng phái tân cổ điển, Ông cho rằng vốn là “hàng hóa” đƣợc sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là “đầu vào” cho hoạt động sản xuất của một DN. Nhƣ vậy, VKD có thể tồn tại dƣới cả hình thái tiền tệ và hình thái hiện vật nhƣ máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, nguyên vật liệu, hàng hóa trung gian.
Theo quan điểm này mới cho thấy trạng thái biểu hiện của vốn, vốn chỉ tham gia vào quá trình sản xuất mà chƣa tham gia vào quá trình kinh doanh, chƣa thể hiện đầy đủ mục đích sử dụng vốn. Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn là một loại hàng hoá nhƣng đƣợc sử dụng tiếp tục vào quá trình SXKD tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác.
Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Đất đai không đƣợc coi là vốn. Theo quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, song chƣa cho thấy mục đích sử dụng vốn. Thực tế nghiên cứu cho thấy, quá trình SXKD của DN đƣợc thực hiện liên tục qua 3 khâu: dự trữ sản xuất, sản xuất, lƣu thông.
Do đó VKD của DN cũng vận động không ngừng, tạo ra sự tuần hoàn và luân chuyển vốn. Qúa trình luân chuyển đƣợc bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) sang hình thái hàng hóa (H) cụ thể: Khi DN mua sắm các yếu tố đầu vào là TLSX và SLĐ, qua quá trình sản xuất giá trị TLSX và SLĐ sẽ đƣợc chuyển dần vào giá trị sản phẩm và vốn trở lại hình 12 thái (H’). Kết thúc việc tiêu thụ sản phẩm, vốn trở lại hình thái tiền tệ (T’). Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN, số tiền thu đƣợc do tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có lãi.
Nhƣ vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những đƣợc bảo toàn mà nó còn đƣợc tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo của SXKD đƣợc gọi là vốn. Vốn đƣợc biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tƣ tài sản và hàng hóa của DN, tồn tại dƣới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể. Ở nƣớc ta, cũng có một số quan điểm về vốn đƣợc đƣa ra trong thời gian gần đây.
Nhóm tác giả biên soạn giáo trình Tài chính doanh nghiệp thuộc Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Theo các nhà khoa học Học viện Tài chính,“vốn kinh doanh của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN”. Theo đó, có thể hiểu vốn kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tƣ và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận. Bên cạnh đó, khái niệm về vốn đƣợc đƣa ra trong nghiên cứu của một số tác giả nhƣ sau: “Vốn là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố đầu vào (nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật tư hàng hoá, nguồn nhân lực, tiền bạc, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, …) được huy động và sử dụng cho quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời”.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tƣ liệu sản xuất, đƣợc doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận. Qua phân tích trên, tác giả đồng nhất quan niệm về VKD trong giáo trình Tài chính DN của Học viện tài chính: VKD của DN là toàn bộ số tiền ứng trƣớc mà DN bỏ ra để đầu tƣ hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của 13 DN. Nói các khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tƣ và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khái niệm trên cho thấy một sự phân định giữa tiền và vốn.
Thông thƣờng có tiền sẽ làm nên vốn, nhƣng tiền chƣa hẳn là vốn. Tiền muốn trở thành VKD thì phải thỏa mãn đồng thời một số điều kiện sau: Một là: Tiền phải đại diện cho một lƣợng tài sản có thực; Hai là: Tiền phải đƣợc tập trung, tích tụ đến một lƣợng nhất định đủ để đầu tƣ vào một dự án kinh doanh; Ba là: Tiền phải đƣợc vận động nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng Một số đặc trƣng cơ bản của vốn là: Thứ nhất, vốn phải đƣợc đại diện cho một lƣợng tài sản nhất định. Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của các loại tài sản nhƣ: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chỉ những tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới đƣợc coi là vốn. Thứ hai, vốn phải đƣợc vận động sinh lời, đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền nhƣng tiền chỉ đƣợc coi là dạng tiềm năng của vốn để trở thành vốn thì tiền phải đƣợc đƣa vào quá trình sản xuất kinh doanh và sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhƣng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là tiền.
Đồng thời vốn phải không ngừng đƣợc bảo toàn, bổ sung và phát triển sau mỗi quá trình vận động để thực hiện việc tái sản xuất giản đơn và mở rộng của doanh nghiệp. Thứ ba, vốn phải đƣợc tích tụ tập trung một lƣợng nhất định, có nhƣ vậy mới phát huy đƣợc tác dụng để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh. Đặc trƣng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động đủ lƣợng cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tƣ lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thứ tƣ, vốn phải gắn liền với chủ sử hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ không ai quản lý.
14 Thứ năm, vốn phải đƣợc quan niệm nhƣ một loại hàng hóa đặc biệt, có thể mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trƣờng. Thứ sáu, vốn luôn vận động chuyển hóa hình thức trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tại một thời điểm,vốn có thể tồn tại dƣới nhiều hình thức vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản hữu hình mà còn đƣợc biểu hiện bằng các loaik tài sản vô hình. Đặc trƣng này giúp doanh nghiệp có sự nhận diện về các loại vốn, từ đó đề xuất các biện pháp phát huy hiệu quả tổng hợp của vốn kinh doanh.
Đối với mỗi doanh nghiệp, khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì trƣớc hết phải nắm vững khái niệm và các đặc trƣng cơ bản của vốn. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này chỉ xem xét vốn trên giác độ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp 1. Phân loại Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phƣơng thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng các phƣơng thức huy động vốn của doanh nghiệp đƣợc đa dạng hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế.
sau đây là các nguồn vốn và các phƣơng thức huy động vốn mà các doanh nghiệp có thể sử dụng. Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh đƣợc chia thành 2 loại: vốn cố định và vốn lƣu động. Vốn cố định của doanh nghiệp Để có đƣợc các tài sản cố định cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải đầu tƣ ứng trƣớc một lƣợng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cố định đƣợc gọi là vốn cố định của doanh nghiệp.Vốn cố định có đặc điểm là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất đƣợc tài sản cố định về mặt giá trị.
15 Vốn lưu động của doanh nghiệp Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, doanh nghiệp cần phải có các tài sản lƣu động. Để hình thành nên các tài sản lƣu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tƣ vào các tài sản đó. Số vốn này đƣợc gọi là vốn lƣu động của doanh nghiệp. Vốn lƣu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và đƣợc thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.
Phân loại vốn theo nguồn hình thành: Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: - Vốn góp ban đầu; - Lợi nhuận không chia; - Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới. Vốn góp ban đầu Khi doanh nghiệp thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu đóng góp.