phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý thu thuế tại chi cục hải quan cửa khẩu. Thực trạng quản lý thu thuế tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Quy Nhơn. Giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế tại Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Quy Nhơn.
e 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU 1. Khái quát về thuế tại chi cục hải quan cửa khẩu 1. Thuế và vai trò của thuế Thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do Luật quy định các t chức và cá nhân trong xã hội nộp cho Nhà nƣớc bằng một phần thu nhập của mình, nhằm tập trung một bộ phận quyền lực, của cải xã hội vào Ngân sách Nhà nƣớc, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế xã hội. Thuế là một khoản thu không bồi hoàn, nộp thuế là nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân.
Thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập trung thuế trên toàn xã hội , chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp luật để ban hành các sắc thuế, vì vậy, thuế thƣờng đƣợc quy định dƣới dạng văn bản luật hay pháp lệnh. Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là hành vi phạm pháp. Các pháp nhân, cá nhân chỉ nộp cho Nhà nƣớc các khoản thuế đã đƣợc pháp luật quy định. * Vai trò của thuế: Là nguồn thu lớn trong t ng thu ngân sách nhà nƣớc Cho đến nay, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thƣơng mại với hơn 200 nƣớc và vùng lãnh th trên thế giới.
Các mặt hàng xuất, nhập khẩu ngày càng đa dạng, phong phú, tăng về số lƣợng và chất lƣợng. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng không ngừng, tƣơng ứng với số thu thuế xuất, nhập khẩu ngày càng tăng, đóng góp từ 20-23% t ng thu ngân sách về thuế. Là công cụ góp phần thực hiện quản lý nhà nƣớc về hải quan, kiểm tra và điều tiết vĩ mô hoạt động xuất nhập khẩu, vừa kích thích định hƣớng hoạt động e 15 xuất nhập khẩu vừa hƣớng dẫn tiêu dùng. Thuế xuất nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hay hạn chế tiêu dùng thông qua việc điều chỉnh thuế suất.
Thông qua việc xây dựng biểu thuế, chính sách miễn giảm thuế, nhà nƣớc có thể kiểm soát và hƣớng dẫn hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đƣờng lối phát triển trong từng giai đoạn nhằm thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Góp phần thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc Thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giúp các thành phần kinh tế đứng vững và vƣơn lên trong cơ chế thị trƣờng, tăng khả năng cạnh tranh trên trƣờng quốc tế. Đa phƣơng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại là một yêu cầu tất yếu, vì thế sự tồn tại của thuế xuất nhập khẩu là một tất yếu khách quan, song song tồn tại với hoạt động ngoại thƣơng. Bảo hộ là bảo vệ và trợ giúp các thành phần kinh tế trong điều kiện cần thiết, nhà nƣớc sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô tạo ra một môi trƣờng thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển,một trong những công cụ đó là thuế.
Thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu là một khoản chi phí nằm trong giá thành hàng hóa, ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi nhuận thu đƣợc của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay thì vấn đề giá cả là yếu tố hàng đầu, cạnh tranh về giá là loại cạnh tranh có hiệu quả cao. Giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thuế xuất nhập khẩu. Các nƣớc phát triển có điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, nên giá thành sản phẩm thƣờng thấp hơn giá thành sản xuất trong nƣớc.
Do vậy đánh thuế là công cụ hữu hiệu để san bằng khoảng cách về giá đó. Thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc trong quan hệ quốc tế, góp phần đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội Trong những năm vừa qua đất nƣớc ta n định về chính trị và xã hội, kinh tế đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng mừng, giao lƣu kinh tế đƣợc mở e 16 rộng, công cuộc cải cách hành chính phát triển n i bật, đa phƣơng hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ, Viêt Nam muốn là bạn với tất cả các nƣớc trên thế giới, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại, đây chính là bƣớc tiến quan trọng cho hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Bình Định. Ngoài ra, chúng ta còn phải nhắc tới những bƣớc tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hoá ngành Hải quan nhƣ quy chế hoá, quy trình hoá, thống nhất hoá hoạt động nghiệp vụ chuyên môn và xây dựng lực lƣợng Hải quan vững mạnh. Bên cạnh đó, việc thực thi những hiệp đinh quốc tế song phƣơng và đa phƣơng trong các FTA mới nhƣ: CPTPP (tiền thân là TPP, có hiệu lực tại Việt Nam từ 14/1/2019), AHKFTA (có hiệu lực từ 11/06/2019), EVFTA (có hiệu lực từ 01/08/2020), UKVFTA, (có hiệu lực chính thức từ 01/05/2021)…việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo hiệp định thƣơng mại đã góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại với các nƣớc trên thế giới đặc biệt là Châu Á Thái Bình Dƣơng và Châu Âu là những thị trƣờng lớn và nhiều tiềm năng.
Các loại thuế tại chi cục hải quan cửa khẩu 1. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế thu vào các loại hàng hóa đƣợc phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam kể cả thị trƣờng trong nƣớc vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trƣờng trong nƣớc. Cơ quan hải quan quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định tại Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/4/2016 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ nhằm điều tiết việc sản xuất, nhập khẩu và e 17 tiêu dùng xã hội. Đồng thời điều tiết mạnh thu nhập của ngƣời tiêu dùng.
Góp phần tăng thu cho Ngân sách Nhà nƣớc, tăng cƣờng quản lý sản xuất kinh doanh đối với những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Cơ quan hải quan quản lý thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu đối với các hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008; Luật sửa đ i, b sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 70/2014/QH13 ngày 26/11/2014; Luật sửa đ i, b sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Thuế bảo vệ môi trường Thuế bảo vệ môi trƣờng là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trƣờng. Cơ quan hải quan quản lý thu thuế bảo vệ môi trƣờng ở khâu nhập khẩu đối với các hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế bảo vệ môi trƣờng theo quy định của Luật thuế bảo vệ môi trƣờng số 57/2010/QH12 ngày 15/11/2010 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thuế giá trị gia tăng Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc nộp vào ngân sách Nhà nƣớc theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Cơ quan hải quan quản lý thu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu đối với các hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Luật sửa đ i, b sung một số Điều của Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19/6/2013; Luật sửa đ i, b sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014; Luật sửa đ i, b sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ e 18 đặc biệt và Luật quản lý thuế số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Quản lý thu thuế tại chi cục hải quan cửa khẩu 1. Khái niệm, mục tiêu quản lý thu thuế 1.
Khái niệm quản lý thu thuế Quản lý nhà nƣớc đối với nền kinh tế là sự tác động có t chức và bằng pháp quyền của Nhà nƣớc lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nƣớc, các cơ cấu có thể có để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế đất nƣớc đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lƣu quốc tế. Trong khi đó quản lý tài chính công là quá trình Nhà nƣớc hoạch định, xây dựng chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các công cụ và phƣơng pháp thích hợp tác động đến các hoạt động của tài chính công, làm cho chúng vận động phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế-xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nƣớc đảm nhận. Quản lý thuế rõ ràng là một nội dung của quản lý nhà nƣớc về kinh tế. Ngoài ra, nó là một nhánh quan trọng của quản lý tài chính công.
Do vậy, khái niệm quản lý thuế cũng có một số nét tƣơng đồng với hai khái niệm trên. Lê Xuân Trƣờng, Giáo trình Quản lý thuế, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2010 [30, tr.7-10], tác giả định nghĩa quản lý thuế là “một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính nhà nƣớc” và dẫn giải “quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính nhà nƣớc vào con ngƣời hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt đƣợc các mục tiêu của chính phủ”. Dƣơng Thị Bình Minh, Giáo trình Tài chính công, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2005 [14, tr. 5-15], thì “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nƣớc (NSNN) thực hiện”.