Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các trường cao đăng đáp ứng yêu câu của giai đoạn hiện nay - Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại trường Cao đẳng ANNDI. - Chương 3: Các biện pháp quản lý tài chính tại trường Cao đăng ANND I đáp ứng yêu câu giai đoạn hiện nay. CO SO LY LUAN VE QUAN LY TAI CHINH TAI CAC TRUONG CAO DANG DAP UNG YEU CAU GIAI DOAN HIEN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, giáo dục đã ton tại, phát triển cùng với sự ton tai va phat triển của dân tộc vả luôn đóng vai trò quan trọng như một trụ cột cơ bản của việc xây dựng và vun đắp cho nền văn hiến lâu đời của đất nước.
Hiện nay, xu thế hội nhập giáo dục không còn là khu vực chỉ có một chủ thể đầu tư duy nhất là Nhà nước. Để đáp ứng nhu cầu một xã hội học tập thì nguồn đầu tư cho giáo dục phải bao gồm tông thê nhiều nguồn khác nhau chứ không chỉ có một nguồn gần như duy nhất là ngân sách Nhà nước như trước đây. Nhà nước luôn dành sự ưu tiên đầu tư cho hoạt động giáo dục nên các chính sách đưa ra đều khuyến khích và bảo hộ các quyền lợi hợp pháp của tô chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho giáo dục. Đối với các trường thực tế ngoài khoản thu từ ngân sách nhà nước cấp còn có cả nguồn thu sự nghiệp của Nhà trường được phép khai thác như: các loại phí, lệ phí theo quy định (lệ phí tuyến sinh, tiền học phí, quỹ xây dựng.
Các khoản thu sự nghiệp khác gan với hoạt động thực hành, sản xuất, thí nghiệm, cung cấp dịch vụ của nhà trường. Bên cạnh những khoản thu sự nghiệp trên, các Nhà trường còn được phép chủ động huy động nguồn lực hợp pháp từ các tổ chức, đơn vị cá nhân trong và ngoài nước để tạo nguồn kinh phí hỗ trợ cho nhiệm vụ của nhà trường theo đúng quy định của pháp luật. Chính vì vậy, đầu tư nguồn lực nói chung và đặc biệt là đầu tư tài chính cho giáo dục cần có cơ chế quản lý phù hợp để đảm bảo thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính trong hoạt động giáo dục đã được Đảng, Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp quan tâm thực hiện, đồng thời là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của giáo dục đào tạo nước nhà.
Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài chính sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị trường học chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực, hiệu quả; từng bước nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cho xã hội; tạo điều kiện cho người dân ngày càng có nhiều cơ hội được lựa chọn, tiếp cận với các dịch vụ giáo dục có chất lượng ngày càng cao; đồng thời từng bước giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên; tăng cường phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. tiến tới từng bước xóa bỏ tỉnh trạng hành chính hóa các hoạt động sự nghiệp. Thực hiện tốt những vấn đề trên sẽ phần nào góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài chính tại các cơ sở giáo duc trong xu thé hội nhập hiện nay. Đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính và đánh giá được thực trạng cơ chế tự chủ, những hạn chế, nguyên nhân và đưa ra những kiến nghị về nâng cao hiệu quả, đổi mới cơ chế tự chủ.
Đề tài: “Quản lý Nhà nước theo hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” năm 2009 của tác giả Phan Huy Hùng. Đề tài nghiên cứu của tác giả Trần Đức Cân năm 2012: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam”. Đề tài “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” của Vũ Thị Thanh Thủy (2012). Đề tài: “Quản lý tài chính tại ĐHQG Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Thị Hương năm 2015.
Đề tài của Phan Công Nghĩa và các cộng sự: “Xây dựng mô hình quản trị tài chính đối với các trường đại học công lập” năm 2015. Đề tài: “Tác động của quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục đại học - Nghiên cứu điển hình tại các trường đại học thuộc Bộ Công Thương” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2015). Các nghiên cứu đã trình bày rõ ràng, chỉ tiết các cơ sở lý luận và từ đó nghiên cứu làm rõ được một số nội dung cơ bản trong quản lý tài chính tại một số đơn vị giáo dục. Một số công trình nghiên cứu về chế độ kế toán áp dụng tại các trường đại học, cao đăng thu được những kết quả tốt.
Tác giả Nguyễn Hữu Đồng (2012) với đề tài: “Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các trường đại học công lập Việt Nam”. Đê tài nghiên cứu về kê toán quản trị của tắc giả Hoàng Đình Hương năm 2015: “Tổ chức kế toán quản trị chỉ phí trong các trường đại học ngoài công lập tại Việt Nam”. Như vậy, chưa có nhiều nghiên cứu về quản lý tài chính trong nhà trường. Các nghiên cứu về quản lý tài chính trong trường Cao đăng càng thiếu văng.
Do vậy đề tài được lựa chọn nghiên cứu có thể có những đóng góp có ý nghĩa và có tính thực tiễn cho hoạt động quản lý nhà trường cao đắng nói chung và ở trường Cao đăng thuộc khối an ninh nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu đôi mới hiện nay ở nước ta; từ đó đưa ra giải pháp QLTC phủ hợp với các đặc thù riêng của trường Cao đăng an ninh I. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quan ly Quản lý được thể hiện thông qua hành vi của chủ thể quản lý nhằm dat được những mục đích của chủ thể đề ra, biểu hiện dưới các nội dung xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động. Có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, tùy thuộc vào các cách tiếp cận hoạt động này.
Tuy nhiên, từ góc độ của 1 tổ chức, có thể hiểu quản lý như sau: Quản lý là tat cả các tác động có chủ đích, có định hướng của chủ thể quản lý tác động lên khách thể quàn lý làm cho tổ chức đó vận động trên cơ sở phát huy tot nhất các tiềm lực vốn có và đảm bảo phát triển đến một trạng thái mới, phù hợp với chiến lược đê ra của tổ chức. Sự phân công lao động là bắt nguồn của hoạt động quản lý, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung của tô chức. Bất kỳ tô chức nảo từ doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp. đều phải tổ chức công tác quản lý.
Các yếu tô của quản lý bao gồm: - Chu thé quan lý: có thể là một cá nhân hoặc tổ chức tạo ra tác động trong quản lý sử dụng quyền lực được giao nhằm điều hành, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình vận động tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. - Khách thể quản lý: chịu sự điều chỉnh, tác động của chính chủ thể quản lý thông qua các quy trình của xã hội và hành vi của con người. - Đối tượng quản lý: là đối tượng mà chủ thể quản lý thực hiện tác động. Có nhiều dạng quản lý khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng quản lý.
- Mục tiêu quản lý: là nhằm đạt đến cái đích mà chủ thể quản lý xác định tại một thời điểm nhất định. Quan lý giáo dục Giáo duc là việc đào tạo, giảng dạy hoặc nghiên cứu của một nhóm người được truyền qua các thế hệ thông qua hình thức học tập các kiến thức, kỹ năng, và thói quen. Giáo dục có thê dưới hình thức tự học hoặc dưới sự hướng dẫn của người khác. Giáo dục thông thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi mầm non, giáo dục bậc tiểu học, giáo dục bậc trung học, và giáo dục bậc đại học.
Tại Việt Nam, một định nghĩa khác về giáo dục do Giao su Hồ Ngọc Đại đưa ra như sau: “Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu đề từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân.” Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là hình thành và phát triển phẩm chất, giá trị, năng lực của con người để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Phẩm chất của con người bao gồm phẩm chất đạo đức, lập trường, tư tưởng, niềm tin, và thái độ. của họ trong cuộc sống. Năng lực của con người tích luỹ được và áp dụng vào đời song bao gom toàn bộ kỹ năng, tri thức, kỹ xảo, chuyên môn.
Giá trị của mỗi con người được xây dựng nên từ quá trình giáo dục phẩm chất và năng lực của mỗi người. Đây là hai mặt có quan hệ biện chứng tạo nên một người phát triển toàn diện đủ đức đủ tài, nó tác động qua lại với nhau trong mối quan hệ tổng hoà với xã hội, góp phần tích cực trong việc tạo nguồn nhân lực chất lượng cho sự phát triển của xã hội. Mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn khác nhau và ở từng quốc gia hoàn toàn khác nhau tuỳ thuộc vào chế độ chính trị và chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia đó. Mục tiêu giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được nêu rõ trong Luật giáo dục số 38/2005/QH11: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thâm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với ly tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”.