Luận văn: Quản lý tài chính tại Bệnh viện Quân Y 354 - TCHC (2020)

Luận văn thạc sĩ quản lý tài chính bệnh viện quân y 354. Nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tài chính, tổng cục hậu cần, giải pháp tối ưu hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Tác giả

Hồ Hiển Hùng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

prefix.1. Tính cấp thiết của đề tài

prefix.2. Mục đích nghiên cứu

prefix.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.4. Phương pháp nghiên cứu

prefix.5. Kết cấu luận văn

prefix.6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI

1.1. Những vấn đề chung về Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội

1.1.1. Đơn vị dự toán quân đội

1.1.2. Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội

1.2. Quản lý tài chính tại các đơn vị dự toán quân đội

1.2.1. Nhận thức quản lý tài chính

1.2.2. Quản lý tài chính tại các bệnh viện trong quân đội

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính

1.3.1. Nhân tố bên ngoài

1.3.2. Nhân tố bên trong

1.4. Những bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý tài chính tại bệnh viện 354 – Tổng cục Hậu cần

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354 - TỔNG CỤC HẬU CẦN

2.1. Khái quát về Bệnh viện Quân y 354

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Bệnh viện

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy

2.1.3. Cơ chế quản lý tài chính, ngân sách và công tác kế toán

2.2. Thực trạng quản lý tài chính ở Bệnh viện Quân y 354 giai đoạn 2017 – 2019

2.2.1. Thực trạng quản lý ngân sách dự toán trên cấp

2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoàn thiện quản lý tài chính của đơn vị quân đội

2.2.3. Đối với nguồn thu viện phí và thu khác

2.3. Những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Quân y 354 trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2019

2.3.1. Kết quả đạt được

2.3.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354 - TỔNG CỤC HẬU CẦN

3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng quản lý tài chính của Bệnh viện Quân y 354 - Tổng cục Hậu cần giai đoạn 2020 - 2025

3.1.1. Định hướng phát triển của Bệnh viện Quân y 354 - Tổng cục Hậu cần giai đoạn 2020 - 2030 và tầm nhìn 2045

3.1.2. Định hướng nhiệm vụ công tác Quản lý tài chính tại Bệnh viện Quân y 354 giai đoạn 2020 – 2025

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao quản lý tài chính tại Bệnh viện Quân y 354 – Tổng Cục Hậu Cần

3.2.1. Đổi mới phương pháp lập dự toán ngân sách

3.2.2. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện ngân sách, chấp hành chi tiêu ngân sách, thẩm định công tác quản lý tài chính

3.2.3. Từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động có thu, tiến tới thực hiện mô hình tự chủ tài chính một phần tại Bệnh viện Quân y 354

3.2.4. Nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, quản lý điều hành của hệ thống tổ chức quản lý tài chính

3.2.5. Xây dựng cơ quan tài chính vững mạnh toàn diện, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên tài chính và tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý tài chính

3.3. Một số kiến nghị

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá cơ sở lý luận về quản lý tài chính bệnh viện quân y

Luận văn thạc sĩ về quản lý tài chính bệnh viện quân y đi sâu vào việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản, tạo nền tảng vững chắc cho việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp. Bệnh viện quân y, với tư cách là một đơn vị dự toán quân đội, hoạt động dựa trên nguồn kinh phí chủ yếu từ ngân sách nhà nước (NSNN). Do đó, việc quản lý tài chính không chỉ đơn thuần là các nghiệp vụ kế toán mà là một quá trình phức tạp, bao gồm việc tổ chức, điều hành và kiểm soát toàn bộ hoạt động tài chính nhằm đảm bảo sử dụng ngân sách hiệu quả, đúng mục đích và tuân thủ pháp luật. Quá trình này quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả chi tiêu, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ khám chữa bệnh (KCB) và sẵn sàng chiến đấu. Luận văn nhấn mạnh, thực chất của quản lý tài chính trong bối cảnh này là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (Ban Giám đốc, Ban Tài chính) lên đối tượng quản lý (các nguồn lực tài chính) thông qua hệ thống công cụ và phương pháp đa dạng. Các công cụ này bao gồm chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức kinh phí và các văn bản pháp quy do Nhà nước và Bộ Quốc phòng ban hành. Việc nhận thức sâu sắc về vai trò của đơn vị dự toán quân đội và các nguyên tắc quản lý NSNN là yêu cầu tất yếu, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tài chính tại các bệnh viện trong quân đội.

1.1. Đặc điểm của đơn vị dự toán quân đội trong hệ thống y tế

Một đơn vị dự toán quân đội như bệnh viện quân y là đơn vị thụ hưởng NSNN, được thành lập theo biên chế, tổ chức của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ chính là KCB cho quân nhân và nhân dân, đồng thời sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng. Theo Nghị định 10/2004/NĐ-CP, các đơn vị này được phân cấp quản lý ngân sách rõ ràng, từ cấp 1 (Bộ Quốc phòng) đến các cấp thấp hơn. Khác với các bệnh viện dân sự, bệnh viện quân y phải tuân thủ kỷ luật và các quy định đặc thù của quân đội. Nguồn tài chính không chỉ đến từ NSNN cấp mà còn từ các hoạt động có thu như thu một phần viện phí, bảo hiểm y tế (BHYT) và các dịch vụ y tế khác. Sự cân bằng giữa nhiệm vụ chính trị và yêu cầu hiệu quả kinh tế là một thách thức lớn trong công tác quản lý tài chính.

1.2. Nguyên tắc cốt lõi trong quản lý ngân sách nhà nước tại viện

Việc quản lý tài chính bệnh viện quân y phải tuân thủ ba nguyên tắc vàng. Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo dự toán: Mọi khoản chi phải được xác định trong dự toán ngân sách (DTNS) đã được phê duyệt, đây là chỉ tiêu pháp lệnh. Thứ hai, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Với nguồn lực hạn chế, mọi chi tiêu phải được tính toán để đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng tốt nhiệm vụ chuyên môn. Thứ ba, nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước (KBNN): Các khoản chi phải được KBNN kiểm soát chặt chẽ về tính hợp pháp, hợp lệ trước khi thanh toán, đảm bảo minh bạch và đúng quy định. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc này giúp ngăn ngừa lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

1.3. Chu trình quản lý ngân sách Lập dự toán đến quyết toán

Chu trình quản lý ngân sách tại bệnh viện quân y là một vòng khép kín, bắt đầu từ khâu lập dự toán ngân sách. Đây là công việc khởi đầu, quyết định toàn bộ quá trình. Tiếp theo là chấp hành ngân sách, bao gồm phân bổ, giao dự toán, cấp phát và kiểm soát chi. Khâu cuối cùng là quyết toán ngân sách, nhằm tổng hợp, soát xét kết quả thực hiện, phân tích hiệu quả sử dụng kinh phí. Mỗi khâu đều có vai trò quan trọng và liên kết chặt chẽ với nhau. Một dự toán chính xác sẽ là cơ sở cho việc chấp hành và quyết toán hiệu quả. Ngược lại, công tác quyết toán và kiểm tra sẽ cung cấp thông tin phản hồi để cải thiện chất lượng lập dự toán cho các kỳ tiếp theo.

II. Thực trạng và thách thức quản lý tài chính Bệnh viện Quân y 354

Phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Quân y 354 giai đoạn 2017-2019 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ không ít tồn tại, hạn chế. Luận văn của tác giả Hồ Hiển Hùng chỉ ra rằng, bệnh viện đã cơ bản thực hiện đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản của Bộ Quốc phòng. Công tác quản lý ngày càng đi vào nền nếp, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chuyên môn. Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tăng đều qua các năm, cho thấy uy tín và chất lượng dịch vụ được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, công tác quản lý tài chính bệnh viện quân y này vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng lập dự toán ngân sách (DTNS) có năm chưa cao, chưa lường hết các nhiệm vụ phát sinh, dẫn đến việc phải điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện. Việc cấp phát, chi tiêu và thanh quyết toán một số khoản kinh phí đôi khi còn chưa chủ động, kịp thời. Công tác kiểm tra, thanh tra tài chính chưa được thực hiện thường xuyên, ảnh hưởng đến kỷ luật tài chính. Đặc biệt, việc quản lý các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, thu viện phíBHYT còn gặp khó khăn, chưa khai thác hết tiềm năng để tái đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất.

2.1. Hạn chế trong công tác lập dự toán ngân sách giai đoạn 2017 2019

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, chất lượng dự toán ngân sách tại Bệnh viện Quân y 354 trong giai đoạn nghiên cứu vẫn còn một số bất cập. Luận văn chỉ rõ việc lập dự toán đôi khi còn mang tính hình thức, chưa bám sát thực tiễn nhiệm vụ và biến động giá cả thị trường. Việc xác định nhu cầu chi cho các nhiệm vụ đột xuất còn bị động. Điều này dẫn đến tình trạng dự toán được duyệt không đủ đáp ứng nhu cầu thực tế, buộc đơn vị phải thực hiện điều chỉnh hoặc lập dự toán bổ sung, gây ảnh hưởng đến tính chủ động trong điều hành ngân sách. Nguyên nhân của những hạn chế này một phần do phương pháp lập dự toán truyền thống và sự phối hợp chưa thực sự chặt chẽ giữa Ban Tài chính và các khoa, phòng chuyên môn.

2.2. Khó khăn trong quản lý nguồn thu viện phí và dịch vụ y tế

Ngoài nguồn NSNN cấp, các hoạt động có thu, đặc biệt là thu viện phí và thanh toán BHYT, là nguồn tài chính quan trọng giúp bệnh viện nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, thực tế quản lý nguồn thu này còn nhiều vướng mắc. Quy trình, thủ tục thanh quyết toán BHYT còn phức tạp, đôi khi kéo dài. Việc xác định giá dịch vụ y tế chưa tính đúng, tính đủ chi phí, ảnh hưởng đến khả năng tái đầu tư. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh từ các cơ sở y tế tư nhân đòi hỏi bệnh viện phải không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút bệnh nhân, nhưng nguồn lực để đầu tư cho trang thiết bị hiện đại còn hạn chế.

2.3. Áp lực chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính một phần

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm cả các bệnh viện, tạo ra cả cơ hội và thách thức lớn. Đối với một đơn vị dự toán quân đội như Bệnh viện Quân y 354, việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính một phần đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý. Áp lực tăng thu, tiết kiệm chi để đảm bảo hoạt động và cải thiện đời sống cán bộ, nhân viên là rất lớn. Bệnh viện cần phải xây dựng một lộ trình tự chủ cẩn thận, cân nhắc kỹ lưỡng các nội dung được tự chủ để vừa đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng, vừa hòa nhập với cơ chế thị trường.

III. Phương pháp tối ưu hóa dự toán và kiểm soát chi ngân sách hiệu quả

Để nâng cao chất lượng quản lý tài chính bệnh viện quân y, luận văn đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm tập trung vào việc tối ưu hóa chu trình ngân sách. Cốt lõi của nhóm giải pháp này là đổi mới từ khâu lập dự toán đến tăng cường kiểm soát chi. Thay vì lập dự toán dựa trên kinh nghiệm và số liệu năm trước, cần chuyển sang phương pháp lập dự toán dựa trên hiệu suất công việc và nhiệm vụ cụ thể. Điều này đòi hỏi phải xây dựng được hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật chi tiết cho từng hoạt động khám chữa bệnh, từ đó làm cơ sở tính toán nhu cầu kinh phí một cách khoa học và chính xác. Song song với đó, công tác kiểm soát chi ngân sách phải được siết chặt. Hoạt động này không chỉ là trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước mà còn là nhiệm vụ thường xuyên của chính đơn vị. Bệnh viện cần thành lập bộ phận kiểm soát nội bộ, thực hiện kiểm tra trước, trong và sau quá trình chi tiêu. Việc thẩm định các kế hoạch mua sắm, sửa chữa, và giám sát chặt chẽ việc chấp hành các chế độ, tiêu chuẩn, định mức sẽ giúp ngăn chặn lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN. Đây là những bước đi nền tảng để công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Quân y 354 đi vào chiều sâu và thực chất hơn.

3.1. Đổi mới quy trình lập dự toán ngân sách theo nhiệm vụ cụ thể

Giải pháp đột phá là thay đổi cách tiếp cận trong lập dự toán ngân sách. Thay vì phân bổ theo đầu vào (biên chế, giường bệnh), cần lập dự toán theo đầu ra (kết quả và chất lượng hoạt động). Mỗi khoa, phòng cần xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết trong năm, từ đó lập dự toán kinh phí tương ứng. Ban Tài chính sẽ tổng hợp, thẩm định và cân đối dựa trên nhiệm vụ chung của toàn viện và số dự kiến được Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng giao. Phương pháp này giúp dự toán bám sát thực tế, tăng cường trách nhiệm của từng bộ phận và là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động sau này.

3.2. Tăng cường kiểm tra giám sát việc chấp hành chi tiêu NSNN

Để đảm bảo kỷ luật tài chính, công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên và toàn diện. Ban Giám đốc bệnh viện cần tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm. Cần xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ rõ ràng, minh bạch, làm căn cứ cho việc kiểm soát chi. Hoạt động kiểm tra không chỉ tập trung vào chứng từ, sổ sách mà còn cần kiểm tra thực tế hiệu quả của các khoản chi. Việc phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm sẽ có tác dụng răn đe, phòng ngừa, giúp việc sử dụng ngân sách nhà nước tại đơn vị ngày càng hiệu quả hơn.

IV. Hướng dẫn xây dựng cơ chế tự chủ tài chính bệnh viện quân y

Một trong những giải pháp mang tính chiến lược được luận văn đề xuất là từng bước hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính một phần tại Bệnh viện Quân y 354. Đây là xu thế tất yếu nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và phát huy tính năng động, sáng tạo của đơn vị. Để thực hiện thành công, bệnh viện cần xây dựng một đề án tự chủ chi tiết, xác định rõ lộ trình, phạm vi và mức độ tự chủ. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế quản lý đối với các hoạt động có thu. Cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ kỹ thuật cao, để tăng nguồn thu. Việc xây dựng bảng giá dịch vụ phải dựa trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí, có sự tham khảo giá thị trường nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu phục vụ bộ đội và nhân dân. Song song đó, yếu tố con người là then chốt. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ, nhân viên tài chính. Một đội ngũ tài chính vững mạnh sẽ là hạt nhân để triển khai thành công cơ chế tự chủ tài chính trong một đơn vị dự toán quân đội.

4.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động có thu

Để tăng cường tự chủ, bệnh viện cần tập trung quản lý hiệu quả các hoạt động có thu. Cần xây dựng quy chế quản lý rõ ràng cho nguồn thu từ thu viện phí, BHYT và các dịch vụ khác. Phải thực hiện hạch toán riêng các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ để xác định chính xác kết quả tài chính, từ đó có cơ sở để trích lập các quỹ (phát triển sự nghiệp, phúc lợi, khen thưởng) theo quy định. Việc công khai, minh bạch các khoản thu-chi này sẽ tạo động lực cho các khoa, phòng tích cực nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời tăng cường sự giám sát của tập thể.

4.2. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ nhân viên tài chính

Con người là nhân tố quyết định thành công. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng một cơ quan tài chính vững mạnh toàn diện. Cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên tài chính, cập nhật kịp thời các chính sách, chế độ mới của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Ngoài kiến thức chuyên môn, cần trang bị cho họ kỹ năng phân tích, dự báo và tham mưu cho lãnh đạo trong việc ra quyết định tài chính. Một đội ngũ có trình độ cao, đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là nền tảng vững chắc cho công tác quản lý tài chính bệnh viện quân y trong giai đoạn mới.

V. Bí quyết ứng dụng công nghệ và vai trò lãnh đạo trong tương lai

Hướng tới tương lai, để công tác quản lý tài chính bệnh viện quân y phát triển bền vững, luận văn chỉ ra hai yếu tố then chốt: ứng dụng công nghệ và vai trò của người lãnh đạo. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc. Các phần mềm quản lý bệnh viện (HIS), quản lý tài chính - kế toán cần được đầu tư, nâng cấp và kết nối đồng bộ. Tự động hóa các quy trình từ lập dự toán, kiểm soát chi đến lập báo cáo quyết toán ngân sách sẽ giúp giảm thiểu sai sót, tiết kiệm thời gian, nhân lực và cung cấp dữ liệu chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định. Bên cạnh công nghệ, vai trò chỉ đạo, quản lý điều hành của hệ thống tổ chức quản lý tài chính, đứng đầu là Ban Giám đốc, có ý nghĩa quyết định. Lãnh đạo bệnh viện phải có tầm nhìn chiến lược, quyết tâm đổi mới và dám chịu trách nhiệm. Sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc sẽ là động lực để toàn bộ hệ thống tài chính của Bệnh viện Quân y 354 vận hành hiệu quả, minh bạch và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đơn vị.

5.1. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quản trị tài chính

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến là giải pháp mang tính đột phá. Việc số hóa toàn bộ dữ liệu tài chính, từ hồ sơ bệnh nhân, chi phí khám chữa bệnh, đến quản lý vật tư, tài sản, sẽ giúp tạo ra một hệ thống thông tin quản trị thông suốt. Dữ liệu lớn (Big Data) có thể được phân tích để dự báo nhu cầu tài chính, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực và đánh giá hiệu quả của các dịch vụ y tế. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý tài chính mà còn hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý chuyên môn, hướng tới mô hình bệnh viện thông minh trong tương lai.

5.2. Vai trò chỉ đạo của ban giám đốc trong quản lý điều hành

Vai trò của người đứng đầu là không thể thay thế. Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 354 cần nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, quản lý điều hành. Điều này thể hiện qua việc ban hành các chủ trương, quyết sách đúng đắn về tài chính; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; và tạo môi trường làm việc dân chủ, minh bạch. Sự quyết liệt trong việc chống lãng phí, tiêu cực và khuyến khích các sáng kiến cải tiến trong quản lý sẽ tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, giúp bệnh viện vượt qua thách thức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý tài chính của bệnh viện quân y 354 tổng cục hậu cần

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI 1. Những vấn đề chung về Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội Quản lý tài chính là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của công tác tài chính ở các đơn vị dự toán quân đội, quyết định đến chất lượng và hiệu quả chi tiêu, sử dụng ngân sách ở đơn vị, góp phần to lớn vào việc đơn vị SSCĐ và hoàn thành nhiệm vụ được giao, từng bước đưa quân đội tiến tới “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” Thực tế, quản lý NSNN ở mỗi cấp, mỗi ngành, là nội dung quan trọng bao trùm công tác quản lý tài chính ở mỗi cấp và ngành đó tùy điều kiện lịch sử cũng như việc phân cấp quản lý tài chính do nhà nước quy định. Do vậy, việc nhận thức sâu sắc và toàn diện về NSNN là nội dung, yêu cầu vừa mang tính lý luận cũng như yêu cầu tất yếu của công tác quản lý tài chính trong quân đội. Đơn vị dự toán quân đội Đơn vị dự toán quân đội (QĐ) là đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước (NSNN), ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất làm kinh tế, tạo nguồn tài chính bổ sung kinh phí ngân sách… Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, đơn vị trực tiếp nhận phân phối và sử dụng các khoản tiền được cấp phát từ quỹ ngân sách Nhà nước.

Có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc lập dự toán ngân sách thuộc phạm vi trách nhiệm; phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp dưới và tổ chức thực hiện dự toán ngân sách được giao; tổ chức thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của 8 các đơn vị cấp dưới; hướng dẫn, kiểm tra việc thu, chi ngân sách và xét duyệt báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc”. Điều 20 Nghị định số 10/2004/NĐ-CP ngày 07/01/2004 của Chính phủ quy định, các đơn vị DTNS thuộc Bộ Quốc phòng (BQP) bao gồm: - BQP là đơn vị dự toán cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính; - Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và đơn vị tương đương là đơn vị dự toán cấp 2, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 1; - Sư đoàn và tương đương là đơn vị dự toán cấp 3, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 2. Riêng học viện, nhà trường và đơn vị tương đương thuộc BQP là đơn vị dự toán cấp 3, được trực tiếp quan hệ với đơn vị dự toán cấp 1; - Lữ đoàn và đơn vị tương đương là đơn vị dự toán cấp 4, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 3. Riêng lữ đoàn và trung đoàn độc lập là đơn vị dự toán cấp 4, được quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 2; - Các đơn vị trực thuộc không có ngân sách (NS) độc lập, là cấp dự toán chỉ tiêu cơ sở; kế toán thực hiện ghi chép việc nhận kinh phí do cấp trên cấp để chi tiêu, thanh quyết toán kinh phí với cấp trên".

Nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị dự toán NSNN nói chung và đơn vị DTQĐ nói riêng được qui định tại Điều 27 Luật NSNN (2002). Nhiệm vụ chủ yếu gồm: Lập dự toán NSNN; chấp hành và kế toán, quyết toán NSNN; tổ chức quản lý vốn và tài sản, quản lý giá; thực hiện nghiệp vụ về kho bạc, ngân hàng có liên quan; tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các tổ chức kinh tế trong QĐ. Trong đó, công tác lập, chấp hành quyết toán ngân sách (QTNS), thanh tra kiểm tra tài chính là những nội dung chủ yếu, có vai trò rất quan trọng trong quản lý ngân sách sử dụng (NSSD). Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội 1.

Nhận thức về quản lý tài chính ở các đơn vị dự toán quân đội Thuật ngữ “quản lý” được sử dụng khá phổ biến trên mọi lĩnh vực như: quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, quản lý tài chính. Nhìn chung, có thể hiểu “quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã định trước”. Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Thực chất của quản lý tài chính (TC) là các chủ thể quản lý sử dụng các phương pháp, các công cụ tác động tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục đích nhất định trong lĩnh vực kinh tế- tài chính.

Quản lý TCQĐ là một nội dung quan trọng của quản lý TC, đó là quá trình tổ chức, điều hành, kiểm soát việc thực hiện các chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo đúng ngân sách (NS) được duyệt. Nói cách khác, quản lý TC là tổng thể hoạt động của các chủ thể được xác định theo quy định của pháp luật, thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý; được thể hiện từ khâu lập dự toán tài chính (DTTC), chấp hành NS; QTTC, gắn liền với hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính, nhằm bảo đảm đúng, đủ, kịp thời và quản lý chặt chẽ các khoản kinh phí thuộc TC, đáp ứng tốt mọi nhiệm vụ được giao và các mặt công tác, đời sống, chính sách. Hệ thống quản lý TC nói riêng, quản lý tài chính quân đội bao gồm lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các cơ quan chuyên môn các tổ chức cá nhân trong đơn vị theo chức trách có vai trò tham mưu và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan tài chính, các ngành nghiệp vụ cùng với sự tham gia dân chủ tích cực của mọi tổ chức, cá nhân trong đơn vị sử dụng NS. Trong quản lý TC, các chủ thể quản lý có thể sử dụng các phương pháp quản lý và công cụ quản lý khác nhau.

10 Phương pháp tổ chức được sử dụng trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động nghiệp vụ và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó. Đây là sự tập hợp các hoạt động có liên quan của cơ quan TC, cán bộ, quân lực, chính sách, hậu cần, kỹ thuật… thực hiện dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chỉ huy đơn vị nhằm bảo đảm đúng, đủ, kịp thời về kinh phí, NS và quản lý TC chặt chẽ, hiệu quả. Phương pháp hành chính được sử dụng khi các chủ thể quản lý TC muốn các yêu cầu của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện. Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính.

Phương pháp kinh tế được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích kinh tế để kích thích tính tích cực của khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức, cá nhân thuộc quyền đang tiến hành các hoạt động TC, trong đó có hoạt động quản lý TC. Hệ thống văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực tài chính QĐ được sử dụng để quản lý và điều hành NS được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong quản lý NS, công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý TC, chế độ tiêu chuẩn, định mức kinh phí, các chế độ TC, kế toán, thống kê… Cùng với pháp luật, chính sách, hàng loạt các công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý TC như: kiểm tra, thanh tra TC, kiểm toán, kiểm soát chi… Mỗi công cụ trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng theo các cách khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích thúc đẩy, nâng cao chất lượng quản lý NS nói riêng, chất lượng, hiệu quả hoạt động của TCQĐ nói chung. Nguyên tắc quản lý tài chính trong đơn vị dự toán quân đội Quản lý TC dựa trên những nguyên tắc quản lý nhất định; đó là: nguyên tắc quản lý theo dự toán; nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước.

11 * Nguyên tắc quản lý theo dự toán DTNS là một trong những công cụ có hiệu lực trong quản lý, điều hành NS. Luật NSNN quy định lập DTNS là một chế độ cơ bản của công tác TC ở đơn vị DTNS nhằm xác định nhu cầu để bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Lập DTNS là khâu đầu tiên của một chu trình quản lý NSNN. Những khoản chi khi đã được ghi vào dự toán chi được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh.

Xét trên góc độ quản lý, số chi được ghi trong DTNS thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý TC nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NS. Do đó, nguyên tắc quản lý chi theo dự toán là nguyên tắc mang tính tất yếu khách quan đối với tất cả các đơn vị DTNS. Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi NSSD được nhìn nhận qua các góc độ sau: Mọi nhu cầu chi dự kiến cho kế hoạch năm sau nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí cuối năm trước từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan có thẩm quyền từ thấp đến cao (quyết định cuối cùng cho dự toán chi NSNN cho lĩnh vực quốc phòng- an ninh (QP-AN) thuộc về Quốc hội). Vì thế, các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi đã được cấp trên phê duyệt cho cấp mình.

Mặt khác, DTNS cũng chính là căn cứ chi tiêu, sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và đúng đối tượng sử dụng, các đơn vị thụ hưởng NS phải căn cứ chỉ tiêu DTNS được giao làm cơ sở bảo đảm tài chính trong một năm NS. Toàn bộ nhu cầu tài chính của đơn vị đều được thể hiện trong DTNS đã được giao, do đó, việc lập DTNS chính xác sẽ quyết định đến chất lượng, hiệu quả của quá trình chi tiêu sử dụng kinh phí tại đơn vị. Điều này vô cùng quan trọng do toàn bộ nguồn lực tài chính của các đơn vị DTQĐ chủ yếu từ NSNN cấp. Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi, các đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ, sử dụng cho các khoản, mục chi và 12 phải hạch toán theo đúng mục lục NS quy định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ