CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TÀI SẢN CÔNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA CẤP TỈNH 1. Quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm về tài sản công 1. Khái niệm Tài sản công là yếu tố, nguồn lực quan trọng của đất nước, có ý nghĩa và vai trò to lớn, tạo tiền đề vững chắc cho kinh tế nhà nước.
TSC được nghiên cứu ở nhiều công trình và từ nhiều góc độ khác nhau ví dụ như: Ở Trung Quốc, tài sản nhà nước được xác định là toàn bộ các tài sản và quyền tài sản mà nhà nước sở hữu (bao gồm tất cả các khoản đầu tư và các quá trình liên quan, chiếm đoạt, tài trợ, thế chấp…). Theo đó, tài sản nhà nước ở các tổ chức công và đơn vị hành chính là toàn bộ các loại nguồn lực kinh tế thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nhà nước, được kiểm soát và sử dụng bởi đơn vị hành chính và các tổ chức công, và có thể đo lường theo giá trị tiền. Định nghĩa này chỉ ra ba đặc điểm của tài sản nhà nước tại đơn vị hành chính và tổ chức công. Thứ nhất, tài sản được xem như là nguồn lực kinh tế, cung cấp nền tảng vật chất cho các đơn vị hành chính và các tổ chức để cung cấp các dịch vụ công cộng.
Thứ hai, các tài sản này có giá trị quy đổi bằng tiền. Thứ ba là tài sản được kiểm soát và sử dụng bởi một cơ quan chính phủ hoặc một tổ chức không hoạt động theo vốn doanh nghiệp. Hay như ở Nhật Bản, tài sản quốc gia bao gồm bất động sản và động sản, được chia thành 2 loại: Tài sản liên quan đến quản lý được sử dụng tại cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước gồm tài sản dùng cho công tác quản lý như trụ sở làm việc, máy móc thiết bị…, tài sản công cộng; tài sản hoàng cung; tài sản tại doanh nghiệp nhà nước; và tài sản không liên quan đến quản lý là tài sản không có nhu cầu sử dụng, cần phải xử lý (bán)… Đa số các nước khác trên thế giới đều có những nhận định khác nhau về TSC song đều xuất phát từ thực tiễn tại các nước. Nhưng theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 có hiệu lực chính 6 e thức từ ngày 01/01/2018 quy định về quản lý nhà nước đối với tài sản công, chế độ quản lý, sử dụng tài sản công, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng tài sản công.
Đối với tài sản công là tiền thuộc NSNN, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật có liên quan. Khái niệm TSC được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 cụ thể như sau: “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân, tài sản công tại doanh nghiệp, tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước, đất đai và các loại tài nguyên khác. Phân loại tài sản công Tài sản công được phân chia thành 07 nhóm bao gồm: Nhóm 1: Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội, trừ tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước (gọi là tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị). Nhóm 2: Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và vùng đất, vùng nước, vùng biển gắn với các công trình kết cấu hạ tầng, bao gồm: hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị, hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin, hạ tầng giáo dục và đào tạo, hạ tầng khoa học và công nghệ, hạ tầng y tế, hạ tầng văn hóa, hạ 7 e tầng thể thao, hạ tầng du lịch và hạ tầng khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là tài sản kết cấu hạ tầng).
Nhóm 3: Tài sản công tại doanh nghiệp. Nhóm 4: Tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước. Nhóm 5: Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật bao gồm: Tài sản bị tịch thu; tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, bị chìm đắm được tìm thấy, tài sản không có người nhận thừa kế và tài sản khác thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự; tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động; tài sản được đầu tư theo hình thức đối tác công – tư được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án; Nhóm 6: Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và dự trữ ngoại hối nhà nước. Nhóm 7: Đất đai; tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, kho số viễn thông và kho số khác phục vụ quản lý nhà nước, tài nguyên Internet, phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh và các tài nguyên khác do Nhà nước quản lý theo quy định của pháp luật.
Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp là một bộ phận tài sản công mà Nhà nước giao cho các đơn vị sự nghiệp trực tiếp quản lý và sử dụng, để thực hiện các hoạt động sự nghiệp phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bao gồm: Đất đai, nhà cửa, công trình, vật kiến trúc: là tài sản của đơn vị được gia và hình thành sau quá trình xây dựng như trụ sở làm việc, trường học, bệnh viện, nhà thi đấu thể thao, nhà văn hóa, phòng thí nghiệm, nhà kho, hàng rào, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường sắt, cầu tầu, cầu cảng, đường xá,. 8 e Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị cho cán bộ để làm việc và phục vụ hoạt động của đơn vị như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ. Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải… Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động của đơn vị như máy tính, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt. Vườn cây lâu năm, súc vật nuôi để thí nghiệm hoặc nhân giống như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả và đàn gia súc các loại.
Các loại tài sản khác: là toàn bộ các loại tài sản khác chưa liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật. Đặc điểm tài sản công TSC rất phong phú về số lượng, chủng loại, mỗi loại tài sản có đặc điểm, tính chất, công dụng khác nhau song chúng đều có những đặc điểm chung sau: Thứ nhất: TSC được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng nguồn vốn NSNN hoặc từ các nguồn vốn đầu tư khác. Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp xây dựng và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Đối với tài sản này, NSNN không trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan sử dụng.
Nhưng các tài sản này trước khi giao cho các bệnh viện sử dụng, đều phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Khi các tài sản này được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu cho NSNN. Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp giao cho các cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành từ NSNN. Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng TSC phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, TSC chỉ đơn 9 e thuần là điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. TSC của các cơ quan này lớn nhất là trụ sở làm việc, các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm việc. Số lượng TSC phải tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ, công chức, viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị. Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm TSC không thu hồi được trong quá trình sử dụng TSC.
Thực tế các nước trên thế giới cho thấy khoảng 80% chi NSNN là chi chuyển giao và có rất ít khoản chi là chi thanh toán. Khác với doanh nghiệp kinh doanh, TSC trong cơ quan chủ yếu là những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh; trong quá trình sử dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để đưa ra thị trường; do đó, không chuyển giá trị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chi phí lưu thông.