Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Bình Định. Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Bình Định. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ 1.
Những vấn đề chung về hợp tác xã 1. Khái niệm hợp tác xã Hợp tác xã (HTX) xuất hiện rất sớm ở Châu Âu khoảng giữa thế kỷ XIX, trong giai đoạn này nền kinh tế tự do cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển, những người sản xuất nhỏ cần phải hợp sức lao động, hợp vốn với nhau để chống lại sự chèn ép, khống chế và bần cùng hóa của tư bản. Trên thực tế, mỗi nước có những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau nên sự ra đời và phát triển của các HTX có những đặc điểm khác nhau. Có nhiều định nghĩa về hợp tác xã, tiêu biểu là định nghĩa của Liên minh HTX quốc tế (ICA), của Tổ chức lao động quốc tế (ILO).
Theo Liên minh hợp tác xã (International Cooperative Alliancc-ICA): “Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. Định nghĩa này được hoàn thiện thông qua tuyên bố năm 1995: “Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết”. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Hợp tác xã là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”. Theo một quan điểm khác, hợp tác xã là sự liên kết của những người, những nhà sản xuất nhỏ hoặc những người tiêu thụ cùng tự nguyện liên kết với nhau để nhằm đạt được một số mục tiêu bằng biện pháp trao đổi qua lại những dịch vụ thông qua một doanh nghiệp hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm bằng e 12 các nguồn lực do mọi thành viên đóng góp.
Ở nước ngoài, nhiều học giả đã đưa ra các khái niệm về hợp tác xã. Ví dụ, có quan điểm cho rằng, hợp tác xã là một dạng tổ chức gồm những người tự nguyện tham gia cùng nhau, nhằm thỏa mãn nhu cầu kinh tế chung và cố gắng đưa họ và những người khác thoát khỏi cảnh đói nghèo, trở nên khá giả, thông qua hoạt động của một tổ chức kinh doanh nhằm mang lại lợi ích chung cho tất cả những người tham gia hợp tác. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về hợp tác xã, song các nghiên cứu về hợp tác xã đều cho thấy: - Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do các thành viên tự nguyện góp vốn, góp sức lập nên. Mục tiêu của hợp tác xã là phục vụ xã viên hơn là tìm kiếm lợi nhuận.
Phục vụ xã viên là nhiệm vụ hàng đầu của hợp tác xã. - Hợp tác xã là sự liên kết của những người tham gia, cùng góp vốn, trong đó nhấn mạnh yếu tố con người chứ không phải số vốn mà họ góp. - Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là tự nguyện, quản lý dân chủ, bình đẳng, cộng đồng về trách nhiệm, cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro. - Phương châm chủ đạo của HTX là giúp đỡ lẫn nhau và tự mình giúp mình.
- Mặc dù mục tiêu chính của HTX là phục vụ xã viên của mình, song hoạt động của hợp tác xã còn mang tính cộng đồng là tương trợ và giúp đỡ cộng đồng. Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định hợp tác xã là một loại hình kinh tế hợp tác, đây là một hình thức tổ chức kinh tế đặc thù trong hệ thống các loại hình tổ chức kinh tế đa dạng, là tổ chức kinh tế tự chủ, có vốn, quỹ và tài sản chung, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tư cách pháp nhân. Hợp tác xã được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, tự trợ giúp, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng và đoàn kết của các thành viên tham gia. Mặc dù hợp tác xã là một đơn vị kinh tế thực hiện chức năng sản xuất, kinh doanh, song mục tiêu cơ bản của các xã viên khi thành lập hoặc liên kết thành một hợp tác xã là để thực hiện những hoạt động mà từng cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả nhằm nâng cao điều kiện kinh tế - xã hội của họ thông qua việc cùng hành động e 13 vì lợi ích của tất cả các xã viên chứ không chỉ đơn thuần vì lợi ích của từng cá nhân xã viên.
Ở Việt Nam khi bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta thường dùng các khái niệm: tổ đổi công, tập đoàn sản xuất, HTX bậc thấp, HTX bậc cao. Khái niệm HTX ít được đề cập đến, nhiều nhận thức không đúng về kinh tế hợp tác cùng với những lúng túng trong việc tìm tòi, thử nghiệm mô hình hợp tác xã kiểu mới đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động của hợp tác xã cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới khi đất nước bước vào thời kỳ mới. Trước yêu cầu đó của thực tiễn, tháng 3 năm 1996 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa IX đã ban hành Luật Hợp tác xã. Theo đó, hợp tác xã được định nghĩa: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi, thành lập hợp tác xã theo Luật HTX năm 1996, ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Hợp tác xã sửa đổi, bổ sung (Luật HTX năm 2003). Theo đó hợp tác xã được định nghĩa: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Qua thời gian thực hiện Luật HTX năm 2003, đã bộc lộ những bấp cập, để e 14 xây dựng và phát triển hợp tác xã trong điều kiện tình hình kinh tế mới, ngày 20/11/2012 Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật HTX mới.
Theo luật này, hợp tác xã được định nghĩa: hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 7 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã. Phân loại hợp tác xã 1. Mô hình hợp tác xã nông nghiệp Trong quá trình hình thành và phát triển HTXNN đã có những mô hình khác nhau, từ thấp đến cao. Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước có những chủ trương, chính sách để xây dựng và phát triển HTXNN.
Qua thực tiễn của nước ta có thể nêu lên một số mô hình HTXNN như sau: Tập đoàn sản xuất nông nghiệp, HTXNN, liên HTX. Tập đoàn sản xuất nông nghiệp là mô hình hợp tác sản xuất trong nông nghiệp giai đoạn sau năm 1975 đến khoảng năm 1980. Tập đoàn được thành lập theo đơn vị xã tùy quy mô, số lượng dân số, diện tích đất. Tất cả nông dân lao động và người lao động làm thuê ở tại chỗ có sức lao động, nghề nghiệp, từ 16 tuổi trở lên tự nguyện xin vào Tập đoàn, thì đều có thể được xét kết nạp vào Tập đoàn.
Tập đoàn thực hiện tập thể hóa về đất đai, máy móc công cụ, trâu bò cày kéo, phân phối thu nhập theo nguyên tắc công bằng, hợp lý, quản lý dân chủ mỗi hộ, mỗi người lao động cần đăng ký lao động và tự nguyện thực hiện đúng và tốt việc đăng ký lao động đó. Tập đoàn tạo mọi điều kiện thực hiện đúng và tốt quản lý lao động có định mức, khoán việc đúng mức, hoạch toán công chính xác, kịp thời, đảm bảo ăn chia phân phối công bằng hợp lý. Về mô hình hợp tác xã nông nghiệp được chia làm 2 loại: HTXNN kiểu cũ và HTXNN kiểu mới. HTXNN kiểu cũ là mô hình HTXNN trước khi có Luật HTX hay nói cách e 15 khác đây là mô hình HTXNN trước khoán 10 của Bộ Chính trị.
Thành viên HTXNN theo mô hình này chỉ gồm các cá nhân, sở hữu cá nhân của người nông dân không được thừa nhận, sở hữu của các gia đình bị xóa bỏ, chỉ thừa nhận chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, người nông dân vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu. Quan hệ xã viên với HTX là quan hệ phụ thuộc, xã viên bị tách rời tư liệu sản xuất trở thành người lao động làm công theo sự điều hành của HTX, tính chất HTX đích thực trong HTX không còn, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, hạch toán lỗ lãi, phân phối, giá cả của HTX đều theo sự chỉ huy của cơ quan quản lý cấp trên theo kế hoạch của Nhà nước.