Luận văn Thạc sĩ: quản lý nhà nước về chi thường xuyên ngân sách xã phường

Nghiên cứu quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp xã phường tại thị xã Sơn Tây Hà Nội. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý chi thường xuyên ngân sách xã tại Sơn Tây

Việc quản lý nhà nước về chi thường xuyên ngân sách xã phường trên địa bàn thị xã Sơn Tây Hà Nội là một nhiệm vụ trọng tâm, đóng vai trò nền tảng cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Theo Luật Ngân sách nhà nước, ngân sách cấp xã (NSCX) là cấp ngân sách cơ sở, vừa là một cấp trong hệ thống ngân sách, vừa là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách. Đặc điểm kép này tạo ra những thách thức riêng trong công tác quản lý tài chính công. Chi thường xuyên là các khoản chi nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh quốc phòng và các chính sách xã hội khác. Việc quản lý hiệu quả nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên không chỉ giúp duy trì hoạt động ổn định của bộ máy nhà nước mà còn là công cụ để thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững. Luận văn của tác giả Khuất Thị Thu Giang nhấn mạnh, hiệu quả sử dụng ngân sách ở cấp xã, phường là thước đo năng lực điều hành của chính quyền địa phương, trực tiếp ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý này là yêu cầu cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh thị xã Sơn Tây đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Quản lý chi thường xuyên phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như tập trung dân chủ, công khai, minh bạch và tiết kiệm, hiệu quả, đảm bảo mọi khoản chi đều đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do nhà nước quy định.

1.1. Vai trò của ngân sách cấp xã trong hệ thống tài chính công

Ngân sách cấp xã là công cụ vật chất quan trọng để chính quyền cơ sở thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao. Nó cung cấp nguồn lực tài chính cho hoạt động của Ủy ban nhân dân xã phườngHội đồng nhân dân xã phường, chi trả lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức, và duy trì các hoạt động quản lý hành chính. Thông qua ngân sách, chính quyền cấp xã thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, hỗ trợ phát triển giáo dục, y tế tại địa phương. Một nền quản lý tài chính công vững mạnh ở cấp xã sẽ góp phần ổn định chính trị, củng cố an ninh quốc phòng và tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội toàn diện trên địa bàn.

1.2. Các nguyên tắc cốt lõi trong quản lý chi thường xuyên

Việc quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp xã phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc được quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo sự thống nhất trong chính sách nhưng vẫn phát huy tính chủ động của địa phương. Nguyên tắc công khai minh bạch ngân sách yêu cầu mọi khoản thu, chi phải được công bố rõ ràng để người dân giám sát. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả là yêu cầu hàng đầu nhằm chống lãng phí trong chi tiêu công. Ngoài ra, phân cấp quản lý ngân sách rõ ràng giữa các cấp chính quyền giúp gắn quyền hạn với trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý tổng thể.

II. Thực trạng và thách thức quản lý chi ngân sách xã ở Sơn Tây

Phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách xã, phường tại thị xã Sơn Tây giai đoạn 2012-2014 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế. Về mặt tích cực, công tác quản lý đã đi vào nề nếp, bám sát các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Quy trình lập dự toán ngân sách, chấp hành và quyết toán được thực hiện tương đối đầy đủ. Các khoản chi, đặc biệt là chi cho con người (lương, phụ cấp), được đảm bảo kịp thời, góp phần ổn định hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, luận văn chỉ ra nhiều thách thức lớn. Tình trạng chi tiêu còn lãng phí, chưa thực sự tiết kiệm, đặc biệt trong các khoản chi hành chính, hội họp, tiếp khách. Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc còn tồn tại hạn chế, một số chứng từ chưa hợp lệ vẫn được thanh toán. Năng lực của đội ngũ cán bộ tài chính - kế toán ở một số xã, phường còn yếu, chưa cập nhật kịp thời các quy định mới, dẫn đến sai sót trong nghiệp vụ. Theo Bảng 2.5 của luận văn, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ tài chính còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và thực thi. Việc công khai minh bạch ngân sách tuy đã được thực hiện nhưng hình thức còn mang tính đối phó, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân giám sát hiệu quả. Đây là những rào cản chính cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại địa phương.

2.1. Phân tích kết quả đạt được trong công tác quản lý ngân sách

Trong giai đoạn 2012-2014, công tác quản lý nhà nước về chi thường xuyên ngân sách xã phường tại Sơn Tây đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tổng quyết toán chi thường xuyên được duy trì ổn định, đáp ứng các nhiệm vụ chính trị - xã hội của địa phương. Việc áp dụng mục lục ngân sách nhà nước đã từng bước đi vào quy củ, giúp công tác tổng hợp, báo cáo trở nên khoa học hơn. Sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân xã phườngPhòng Tài chính - Kế hoạch thị xã Sơn Tây ngày càng chặt chẽ, giúp tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong quá trình thực hiện.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác chi tiêu công

Bên cạnh kết quả đạt được, nhiều hạn chế vẫn tồn tại. Luận văn chỉ ra việc lập dự toán đôi khi còn mang tính hình thức, chưa sát với thực tế, dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần trong năm. Công tác quyết toán ngân sách xã còn chậm trễ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ năng lực hạn chế của một bộ phận cán bộ, cơ chế quản lý tài chính còn một số điểm chưa phù hợp với thực tiễn, và ý thức chấp hành kỷ luật tài chính chưa cao. Việc chống lãng phí trong chi tiêu công chưa trở thành thói quen thường trực, dẫn đến hiệu quả sử dụng ngân sách chưa đạt mức tối ưu.

III. Hướng dẫn quy trình lập dự toán chi thường xuyên ngân sách

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính, khâu lập dự toán ngân sách đóng vai trò then chốt. Một bản dự toán khoa học, sát thực tế là nền tảng cho việc chi tiêu đúng hướng và hiệu quả. Quá trình này đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan. Căn cứ để lập dự toán bao gồm chỉ thị của cấp trên, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu hiện hành. Quy trình bắt đầu từ việc các ban, ngành, đoàn thể ở xã, phường lập dự trù kinh phí hoạt động, gửi lên bộ phận tài chính - kế toán tổng hợp. Ủy ban nhân dân xã phường có trách nhiệm xem xét, thẩm định và tổng hợp thành dự toán chung. Dự toán này sau đó được trình Hội đồng nhân dân xã phường xem xét và quyết định. Luận văn nhấn mạnh vai trò của Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã Sơn Tây trong việc hướng dẫn nghiệp vụ và thẩm định dự toán của các xã, phường, đảm bảo tính thống nhất và hợp pháp. Việc xây dựng dự toán cần dự báo chính xác các nguồn thu và nhiệm vụ chi, đặc biệt là các khoản kinh phí hoạt động thường xuyên có tính biến động, nhằm hạn chế tối đa việc điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện, góp phần tăng cường tự chủ ngân sách địa phương.

3.1. Căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn lập dự toán ngân sách xã

Việc lập dự toán ngân sách phải dựa trên hệ thống văn bản pháp lý chặt chẽ, bao gồm Luật Ngân sách nhà nước, các nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Các định mức phân bổ chi thường xuyên được xây dựng dựa trên các tiêu chí như dân số, điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương. Mọi khoản chi dự kiến phải có căn cứ, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong phân bổ nguồn lực công.

3.2. Vai trò của HĐND và UBND trong việc phân bổ ngân sách

Ủy ban nhân dân xã phường là cơ quan trực tiếp lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách. Hội đồng nhân dân xã phường có thẩm quyền quyết định dự toán, phân bổ ngân sách và giám sát toàn bộ quá trình thực hiện. Sự phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ giữa hai cơ quan này là yếu tố cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý tài chính công. Quá trình thảo luận, phê duyệt dự toán tại kỳ họp HĐND là cơ hội để phát huy trí tuệ tập thể, đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng đắn và hiệu quả nhất.

IV. Phương pháp chấp hành và quyết toán ngân sách xã hiệu quả

Chấp hành và quyết toán là hai giai đoạn quan trọng, phản ánh tính kỷ luật và minh bạch trong quản lý nhà nước về chi thường xuyên ngân sách xã phường. Giai đoạn chấp hành dự toán là quá trình tổ chức thực hiện các khoản thu, chi theo dự toán đã được HĐND phê duyệt. Mọi khoản chi phải đảm bảo có trong dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn và được thủ trưởng đơn vị phê duyệt. Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước là cực kỳ quan trọng. Kho bạc thực hiện kiểm soát trước, đảm bảo các khoản chi đáp ứng đủ điều kiện mới được thanh toán, qua đó ngăn chặn hiệu quả các hành vi chi sai, chi lãng phí. Giai đoạn quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách, nhằm tổng hợp, đánh giá toàn bộ kết quả thực hiện thu, chi trong năm. Báo cáo quyết toán phải được lập trung thực, chính xác, khớp đúng với số liệu của Kho bạc. Luận văn đề xuất cần tăng cường công tác đối chiếu số liệu định kỳ giữa xã, phường và Kho bạc, đồng thời nâng cao chất lượng thẩm tra quyết toán của cơ quan tài chính cấp trên. Một quy trình chấp hành và quyết toán chặt chẽ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả sử dụng ngân sách và tăng cường trách nhiệm giải trình.

4.1. Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc

Để siết chặt kỷ luật tài chính, cần nâng cao vai trò kiểm soát chi ngân sách nhà nước của hệ thống Kho bạc. Điều này đòi hỏi Kho bạc phải thực hiện nghiêm quy trình kiểm soát chứng từ, từ chối thanh toán các khoản chi không hợp lệ, không đúng chế độ. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giao dịch giữa đơn vị sử dụng ngân sách và Kho bạc để rút ngắn thời gian xử lý, tăng tính minh bạch và giảm thiểu sai sót. Việc phối hợp chặt chẽ giữa Kho bạc và Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã Sơn Tây trong việc cung cấp thông tin và xử lý vướng mắc cũng là một giải pháp quan trọng.

4.2. Quy trình quyết toán ngân sách xã và xử lý ngân sách cuối năm

Công tác quyết toán ngân sách xã phải được thực hiện đúng thời hạn và quy trình. Kế toán xã, phường có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán năm, trình Ủy ban nhân dân xã phường để báo cáo Hội đồng nhân dân xã phường phê chuẩn. Cơ quan tài chính cấp huyện thực hiện thẩm tra báo cáo quyết toán, phát hiện và xử lý các sai phạm. Việc xử lý kết dư ngân sách cuối năm, chuyển nguồn kinh phí sang năm sau phải tuân thủ đúng quy định, tránh tình trạng giữ lại kinh phí để chi cho các mục đích không đúng quy định, góp phần chống lãng phí trong chi tiêu công.

V. Top giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách xã

Từ việc phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp quản lý ngân sách đồng bộ nhằm khắc phục các hạn chế còn tồn tại trên địa bàn thị xã Sơn Tây. Giải pháp hàng đầu là hoàn thiện công tác lập, chấp hành và quyết toán ngân sách theo hướng khoa học và minh bạch hơn. Cụ thể, việc lập dự toán phải dựa trên cơ sở phân tích, dự báo chính xác, tránh việc lập dự toán theo kiểu ước lệ. Trong chấp hành, cần siết chặt kỷ luật tài chính, tăng cường vai trò kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc và cơ quan tài chính. Giải pháp quan trọng thứ hai là đẩy mạnh công khai minh bạch ngân sách. Thông tin về dự toán, quyết toán, các khoản chi tiêu phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, niêm yết tại trụ sở UBND để người dân dễ dàng tiếp cận và giám sát. Thứ ba, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính – kế toán cấp xã. Một đội ngũ am hiểu chính sách, vững vàng nghiệp vụ là yếu tố con người quyết định đến hiệu quả sử dụng ngân sách. Cuối cùng, cần tăng cường công tác thanh tra tài chính, kiểm tra, giám sát của HĐND và các tổ chức đoàn thể, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, tham nhũng, lãng phí.

5.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và phân cấp ngân sách

Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính theo hướng tăng cường phân cấp quản lý ngân sách một cách hợp lý. Việc phân cấp mạnh mẽ hơn sẽ giúp nâng cao tính tự chủ ngân sách địa phương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, phân cấp phải đi đôi với việc xác định rõ trách nhiệm, tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát từ cấp trên để đảm bảo ngân sách được quản lý và sử dụng đúng pháp luật, hiệu quả.

5.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính kế toán

Con người là yếu tố then chốt. Thị xã Sơn Tây cần có kế hoạch thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức mới về quản lý tài chính công, Luật Ngân sách nhà nước và các chế độ kế toán cho đội ngũ cán bộ tài chính xã, phường. Đồng thời, cần có cơ chế đãi ngộ, thu hút những người có năng lực, trình độ về công tác tại cơ sở, từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý ngân sách.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về chi thường xuyên ngân sách xã phường trên địa bàn thị xã sơn tây hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 quy định: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”, [15]. 11 Ngân sách xã, phường: Theo điều 2 phần I của Thông tư số 60/TT-BTC ban hành ngày 23/6/2003 của Bộ tài chính thì: “ Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước”, [4]. Do đó có thể hiểu ngân sách xã, phường hay gọi chung là NSCX là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ được phân công, phân cấp quản lý. Chi thường xuyên ngân sách xã, phường: Từ những khái niệm đã nêu ở trên về NSCX ta có thể hiểu Chi thường xuyên ngân sách xã, phường hay gọi chung là chi thường xuyên NSCX là các khoản chi nhằm đảm bảo cho sự hoạt động của chính quyền cấp xã theo đúng quy định của pháp luật.

Chi thường xuyên NSCX nói riêng và chi NSCX nói chung đều phải được HĐND cấp xã thông qua. Phân loại các khoản chi thường xuyên NSCX theo các nhóm sau: Nhóm 1: Chi cho hoạt động của các đơn vị ở cấp xã bao gồm các khoản chi cho: 1) Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã; 2) Phụ cấp đại biểu HĐND; 3) Công tác phí; 4) Chi về hoạt động, văn phòng như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết; 5) Chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc; 6) Chi khác theo chế độ quy định. Nhóm 2: Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng. Nhóm 3: Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội nông dân) và các hội đặc thù ở xã (Hội chữ thập đỏ, Hội Người cao tuổi) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác nếu có.

Nhóm 4: Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho cán bộ, công chức xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định. Nhóm 5: Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội bao gồm các khoản chi cho: 1) Chi huấn luyện dân quân tự vệ, chi cho công tác trực sẵn sàng 12 chiến đấu, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ và các khoản chi khác; 2) Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác; 3) Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức các phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; 4) Các khoản chi khác theo chế độ quy định. Nhóm 6: Chi cho công tác bảo trợ xã hội và các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý. Nhóm 7: Chi cho sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ phổ cấp giáo dục cho các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, hỗ trợ các lớp học bổ túc văn hóa, trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã quản lý.

Nhóm 8: Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, cầu đường… Nhóm 9: Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như: Khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định. Nhóm 10: Chi trợ cấp hàng tháng cho các cán bộ cấp xã có thời gian làm việc liên tục từ 15 năm trở lên nghỉ việc và được hưởng chế độ theo quy định. Nhóm 11: Các khoản chi khác ở xã theo chế độ quy định. Đặc điểm NSCX là một bộ phận trong hệ thống NSNN nên NSCX mang một đặc điểm khác biệt so với các cấp ngân sách khác, đó chính là: NSCX vừa là một cấp trong hệ thống NSNN, lại vừa là đơn vị sử dụng ngân sách.

Khi đóng vai trò một cấp ngân sách nó được phân cấp quản lý nguồn thu và thực hiện các nhiệm vụ chi như một cấp ngân sách thực thụ. Còn khi đóng vai trò đơn vị sử dụng ngân sách, nó được trực tiếp chi tiêu các nguồn kinh phí theo dự toán, chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định. Theo thông tư số 118/2000/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2000 của Bộ tài chính thì Thu ngân sách xã gồm: “Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã với ngân sách cấp trên, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. Chi ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên”, [3].

13 Các khoản thu NSCX hưởng 100%: Là các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã, do xã tổ chức huy động và dành cho NSCX được hưởng 100% số thu từ các khoản này. Cơ sở để hình thành các khoản thu và cho phép xã hưởng 100% xuất phát bởi: cơ sở kinh tế của nguồn và yêu cầu tập trung quản lý nguồn. Có thể kể tên các khoản thu NSCX được hưởng 100% như: các khoản phí, lệ phí thu vào NSCX theo quy định; thu đấu thầu, thu khoán theo vụ mùa từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản, thu kết dư…vv. Các khoản thu NSCX được hưởng theo tỷ lệ điều tiết: Cơ sở để hình thành nên các khoản thu này cũng dựa vào cơ sở kinh tế và yêu cầu tập trung quản lý nguồn thu.

Khi đó, những lợi ích gì thuộc về quyền sở hữu của chính quyền nhà nước cấp trên được hưởng, song nên có sự phân chia cho cấp xã một phần để việc phối hợp quản lý có hiệu quả hơn. Các khoản thu đó bao gồm: thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất, thuế môn bài. Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên: Trong hệ thống tổ chức NSNN, các cấp ngân sách đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi cấp ngân sách đều phải tự cân đối thu – chi của mình. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp ngân sách (hay bộ phận của cấp ngân sách) nào không tự cân đối được, thì ngân sách cấp trên có trách nhiệm cấp bổ sung nguồn thu cho cấp ngân sách (hay bộ phận của cấp ngân sách) đó để đảm bảo cân đối thu – chi ngay từ khâu lập dự toán.

Từ đó hình thành khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Chi thường xuyên NSCX bao gồm các khoản chi như chi lương cho công chức, hội họp, đảm bảo xã hội, các hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã…. Còn chi cho đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi về cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội như: cầu, đường, trường, trạm y tế… Đa số các khoản chi thường xuyên đặc biệt là các khoản chi thường xuyên ở xã mang tính chất ổn định khá rõ nét, chủ yếu là chi cho con người như chi trả lương, phụ cấp cho các cán bộ, công chức, cán bộ không chuyên trách, hợp đồng, 14 hưu xã… vì vậy nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bổ tương đối đồng đều giữa các năm trong kỳ kế hoạch; Đa số các khoản chi thường xuyên NSCX mang tính chất tiêu dùng xã hội bởi lẽ các khoản chi thường xuyên NSCX chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về Hành chính nhà nước, quốc phòng an ninh, về các hoạt động hàng ngày tại xã, phường. Hiệu quả của chi thường xuyên NSCX không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển.

Nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước. Việc sử dụng kinh phí thường xuyên ở xã, phường được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức cấp phát thanh toán. Tất cả các khoản chi NSNN nói chung và chi thường xuyên NSCX nói riêng đều phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi thường xuyên NSCX phải có trong dự toán chi NSCX được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị chuẩn chi.

Vai trò NSCX cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cơ sở. Thông qua thu NSCX đã tập trung nguồn lực để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ở cấp xã như chi lương, sinh hoạt phí, chi cho quản lý hành chính, mua sắm các trang thiết bị văn phòng… NSCX là công cụ để điều chỉnh, khích thích mọi hoạt động của xã đi đúng hướng, đúng chính sách, chế độ và tăng cường mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, công bằng trên địa bàn xã NSCX góp phần quan trọng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được xây dựng mới và nâng cấp thường xuyên Chi thường xuyên NSCX có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của NSCX cũng như giúp cho bộ máy chính quyền cấp xã hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Theo điều 2 Quyết định số 112-HĐBT ngày 15/10/1981 của Hội đồng bộ trưởng thì : “Chính quyền cấp xã có chức năng quản lý mọi mặt công tác của Nhà 15 nước ở xã, nhằm bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; đảm bảo quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân trong xã; động viên mọi công dân trong xã làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước”, [6].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ