Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về bồi thường và giải phóng mặt bằng Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bồi thường và giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bồi thường và giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BỒI THƢỜNG VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1. Khái niệm của bồi thƣờng và giải phóng mặt bằng 1.
Bồi thường Thuật ngữ “bồi thường” đã quen thuộc trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” được hiểu là khi một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Bồi thường thu hồi đất cũng có thể được hiểu là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Theo Từ điển Luật học: bồi thường là bù đắp những thiệt hại về vật chất, tinh thần do mình gây ra cho người khác do không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện chậm, thực hiện không đầy đủ một nghĩa vụ dân sự hoặc do vi phạm pháp luật [25]. Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “bồi thường” được định nghĩa: là đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm[26].
Như vậy “bồi thường” là sự đền trả lại những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương xứng. Trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, thiệt hại gây ra cho người sử dụng đất rất lớn, họ có thể mất đất sản xuất, mất nơi kinh doanh, mất chỗ ở… làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Để bù đắp những thiệt hại của người sử dụng đất phải gánh chịu, Nhà nước đã ban hành các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất. 6 Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất [16].
Với khái niệm này, có thể hiểu việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc trưng cơ bản sau: Một là, bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra; Hai là, bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Điều này có nghĩa là chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Ba là, bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) và bên kia là người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra; Bốn là, căn cứ để xác định bồi thường là diện tích đất thực tế bị thu hồi, thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối hoa màu trên đất. Mặt khác, Luật Đất đai năm 2013 đã khắc phục được những hạn chế của Luật Đất đai 2003 và mang ý nghĩa nhân văn hơn; theo đó ngoài việc Nhà nước phải bồi thường về đất, tài sản trên đất Nhà nước còn phải tính đến những thiệt hại vô hình khác khi tiến hành thu hồi đất. Do đó, Nhà nước phải sử dụng thêm cơ chế hỗ trợ mới bù đắp được một cách đầy đủ những thiệt hại do thu hồi đất gây ra.
Việc bồi thường, hỗ trợ phải được bảo đảm thực hiện theo các quy định của pháp luật đất đai. Như vậy, có thể hiểu: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, hoặc 7 phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (tức các chủ đầu tư) phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất theo những quy định của pháp luật đất đai. Giải phóng mặt bằng Một số khái niệm liên quan đến giải phóng mặt bằng: - Khái niệm nhà nước thu hồi đất: Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai(Khoản 11 điều 13 LĐĐ 2013). - Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Bồi thường khi Nhà Nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Theo khoản 6 điều 4 LĐĐ 2013).
- Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới (Khoản 7, Điều 4, LĐĐ 2003). Hỗ trợ khi Nhà Nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai 2013). - Khái niệm tái định cư: Tái định cư là việc người sử dụng đất được bố trí nơi ở mới bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới khi họ bị Nhà nước thu hồi đất và phải di chuyển chỗ ở (LLĐ 2003). Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Theo quy định của pháp luật thì khu TĐC phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo 8 đủ điều kiện bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, giúp họ sớm ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất kinh doanh. - Khái niệm giải phóng mặt bằng: Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới. Quản lý nhà nƣớc về bồi thƣờng và giải phóng mặt bằng 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về Bồi thường và giải phóng mặt bằng 1.
Khái niệm Từ nội hàm của các khái niệm trên đây và từ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn có thể hiểu một cách khái quát: quản lý nhà nước về bồi thường, giải phóng mặt bằng là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng mà người sử dụng đất phải gánh chịu những thiệt hại khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất theo quy định của pháp luật, giúp cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. Đặc điểm của quản lý nhà nước về bồi thường và giải phóng mặt bằng Bồi thường, giải phóng mặt bằng là một hoạt động đa dạng và phức tạp, đặc biệt nó càng trở nên phức tạp và khó khăn khi giá trị đất ngày càng tăng cao cùng với quá trình đô thị hóa, Bồi thường và giải phóng mặt bằng có một số đặc điểm sau: - Tính “nhạy cảm” của quản lý nhà nước về bồi thường, giải phóng mặt bằng: 9 Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mọi người dân; đối với khu vực nông thôn, đất đai ngoài mục đích để ở còn là tư liệu sản xuất quan trọng. Với quan niệm truyền thống của người Việt Nam “có an cư mới lạc nghiệp” thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thực sự là một “cú sốc” đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt thông qua việc khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng.
Các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, dễ trở thành các “điểm nóng”, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. - Tính phức tạp của quản lý nhà nước về bồi thường, giải phóng mặt bằng: Về nguyên tắc, giá đất để tính tiền bồi thường là giá đất cụ thể, được xác định theo quy định của pháp luật và bảo đảm phù hợp với giá đất trên thị trường. Song việc thu thập thông tin để tính đúng giá đất trên thị trường là không hề đơn giản. Mặt khác, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ), người chuyển nhượng thường khai giá chuyển nhượng trong hợp đồng thấp hơn nhiều so với giá thực tế chuyển nhượng nhằm giảm số thuế thu nhập phải đóng, nên giá này càng không thể là căn cứ tính bồi thường.
Việc bồi thường, giải phóng mặt bằng được thực hiện theo từng dự án trên những địa bàn khác nhau và cùng với đó đối tượng bị thu hồi đất cũng khác nhau. Trong từng dự án, loại đất thu hồi cũng không hoàn toàn giống nhau. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan Nhà nước phải tính toán áp dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thích phù hợp. Mặc khác, tình trạng người dân sử dụng đất không đúng mục đích, xây dựng các công trình trái phép cũng diễn ra thường xuyên, cơ quan quản lý nhà 10 nước chưa kịp thời xử lý, vì vậy khi xác định để áp giá đền bù theo quy định của Nhà nước đối với những trường hợp này gặp nhiều trở ngại.
Cùng với đó, giá đất đền bù, hỗ trợ để xây dựng các dự án chưa sát với giá thị trường, còn nhiều bất cập, dẫn đến việc người dân khiếu kiện hoặc chậm bàn giao đất cho công trình là khá phổ biến. Ngoài ra, đối với đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư song không được triển khai (dự án treo) vẫn còn khả phố biến.