Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH THỦY SẢN 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÀNH THỦY SẢN 1. Khái niệm ngành thủy sản Hình 1. Khái quát cơ cấu ngành thủy sản Dựa trên quan điểm về hệ thống tổ chức sản xuất, cơ cấu NTS được phân chia thành nhiều ngành chuyên môn hóa hẹp, độc lập với nhau về mặt kỹ thuật, công nghệ như: ngành NTTS, ngành khai thác, ngành chế biến và ngành dịch vụ thủy sản.
Mỗi ngành này là một quá trình sản xuất riêng bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau. Là một phân ngành hẹp của nông nghiệp nhưng thủy sản có tính độc lập tương đối về đối tượng lao động, hệ thống cơ sở vật chất với phương pháp công nghệ và cho sản phẩm thu hoạch là động thực vật từ môi trường nước. e 9 Theo Điều 3, Luật thủy sản năm 2017: “Hoạt động thủy sản là hoạt động bảo vệ và phát triển NLTS; NTTS; KTTS; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản” [35]. Có thể hiểu khái niệm NTS như sau: Thủy sản là một ngành SXNN chuyên môn hóa hẹp, SXKD dựa trên cơ sở các NLTS, tiềm năng các vùng nước để biến chúng thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của con người.
Vai trò của ngành thủy sản Biểu đồ 1. Sản lượng thủy sản Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2020 Nguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam, 2021 1. Ngành thuỷ sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư, cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác Hầu hết các loại thuỷ sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hoá, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi. NTS cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp.
NTS cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và một số ngành công nghiệp khác. Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến thực phẩm gồm tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển. Các nguyên liệu thuỷ sản còn e 10 được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ. Ngành thuỷ sản phát triển sẽ có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói chung NTS là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
Phát triển mạnh NTS, đặc biệt phát triển công nghiệp CBTS, sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đánh giá vai trò của các khu vực, của ngành kinh tế, người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu chủ yếu, đó là tốc độ tăng trưởng của từng ngành, khu vực và tỷ trọng của từng ngành, từng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế. Trong những năm qua, từ 1995 - 2020 sản lượng thủy sản Việt Nam tăng mạnh, tăng gấp hơn 6 lần, từ 1,3 triệu tấn năm 1995 lên 8,4 triệu tấn năm 2020, tăng trưởng trung bình hàng năm 8%. Trong đó, sản lượng NTTS chiếm 54%, KTTS chiếm 46% [13].
Tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước Đối với những nước có tiềm năng về thủy vực và NLTS, phát triển NTS tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Từ 1997-2020, xuất khẩu tăng gấp 11 lần, tăng trưởng trung bình hàng năm 10% từ 758 triệu USD lên 8,5 tỷ USD. Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang hơn 160 thị trường trên thế giới như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia, Anh, Canada, Nga, chiếm khoảng 92-93% tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam [13]. Trong bảng xếp hạng 6 thị trường lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN), trong những năm gần đây, xuất khẩu sang EU chững lại, sang ASEAN, Hàn Quốc ổn định, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhất, xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản cũng duy trì tăng trưởng khả quan.
Muốn vậy cần đảm bảo ổn định và chủ động về sản lượng, an toàn về vệ sinh và chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Do đó, việc gắn kết phát triển nguyên liệu với chế biến xuất khẩu một cách chặt chẽ và toàn diện là đòi hỏi bắt buộc của phát triển bền vững NTS. Phát triển ngành thủy sản góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước Với nhiều lợi thế đặc biệt về mặt nước và nguồn lợi thuỷ sản, phát triển mạnh mẽ NTS nước ta sẽ góp phần phát triển KT-XH đất nước nói chung và KT-XH nông thôn nói riêng. Về mặt kinh tế, ở những địa phương thuộc duyên hải thuộc Trung bộ hoặc Tây Nam bộ, phát triển thủy sản là con đường làm giàu của các chủ trang trại NTTS, các chủ tàu đánh cá.
Ở các địa phương không có tiềm năng về biển, đặc biệt vùng nông thôn ngoại thành phát triển chăn nuôi thuỷ đặc sản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cho hiệu quả cao. Về mặt xã hội, ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng cao, phát triển chăn nuôi thuỷ sản ao, hồ, sông suối tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc; trợ giúp cho việc xoá bỏ tập quán du canh du cư của đồng bào. Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản tại chỗ ở các vùng này còn góp phần trực tiếp cải thiện dinh dưỡng bữa ăn, làm tăng sức khoẻ của người lớn và giảm suy dinh dưỡng trẻ em. Ngoài ra, phát triển các trạm tàu KTTS xa bờ còn góp phần tăng cường an ninh quốc phòng cho vùng biên giới biển đảo Tổ quốc.
Đối với một số vùng biển, vùng ngập nước ven biển hay trong đất liền, PTTS cũng góp phần vào phát triển ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa. Đặc điểm của ngành thủy sản Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, nên SXKD thủy sản có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của SXNN nói chung. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của đối tượng lao động nên biểu hiện của những đặc điểm chung trong NTS lại có những nét riêng. Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những cơ thể sống, động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy e 12 luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho tùng đối tượng mới thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triền của nó.
Thuỷ vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế Đất đai là tư liệu sản xuất song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt khác với các tư liệu khác ở chỗ: diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn, mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường khác nhau. Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ diện tích mặt nước cả trên ba mặt pháp chế, kinh tế, kỹ thuật. Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao NTS bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản. Các hoạt động chuyên môn hóa có trình độ và qui mô phát triển tùy thuộc vào nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những ngành chuyên môn hóa hẹp có tính chất độc lập.
Tuy vậy, do đặc điểm sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thủy sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản đòi hỏi phải gắn bó các ngành chuyên môn hóa hẹp nói trên trong một thể thống nhất, ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành. Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của những hoạt động sản xuất có tính chất khác nhau tạo thành cơ cấu sản xuất của NTS, bộ phận sản xuất chủ yếu là NTTS và công nghiệp thủy sản [34, tr. Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, CBTS đều đòi hỏi đầu tư ban đầu tương đối lớn. Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn cho phát triển của các hoạt động kinh tế vượt quá khả năng tự tích lũy và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong NTS.
Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện thủy văn, bảo, lũ. Thiên tai gây nhiều thiệt hại nặng cho nghề NTTS và cả tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài khơi. Sản xuất thuỷ sản mang tính thời vụ Trong NTTS, ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu tác động của môi trường tự nhiên. Vì vậy, trong NTTS, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất, do đó ngành NTTS có tính thời vụ rất rõ rệt.
Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng và tương đối phúc tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là các loại động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều yếu tố môi trường như thủy lý, thủy hóa, thủy sinh do đó muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt con người phải tạo môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng nuôi. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các đối tượng nuôi trồng thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định. Hơn nữa, hoạt hoạt động NTTS là hoạt động sản xuất ngoài trời với các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường… và sinh vật có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau.