Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Khái quát một số nội dung về hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Trong thời kỳ bao cấp, chúng ta chủ yếu thừa nhận hai thành phần kinh tế cơ bản trong nền kinh tế, đó là kinh tế quốc doanh, sau này gọi là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng quyết định chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thừa nhận nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế.
Cùng với kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, chúng ta từng bước thừa nhận kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên các khái niệm kinh tế tư nhân hiện nay còn có nhiều ý kiến chưa đồng nhất. Theo nghĩa rộng, kinh tế tư nhân là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh tế tư nhân được sử dụng để phân biệt với kinh tế nhà nước.
Theo nghĩa hẹp hơn, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân, gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Kinh tế tư nhân tồn tại dưới các hình thức như: doanh nghiệp tư 9 e nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và các hộ kinh doanh. Hiện nay ở nước ta, thành phần kinh tế tư nhân phần lớn hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh, là bộ phận đông đảo, được hình thành và hoạt động tương đối rộng trên phạm vi cả nước, phân bố từ nông thôn đến thành thị, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng lâu dài trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giải quyết tình trạng thất nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Để đi tới khái niệm hộ kinh doanh, trước hết cần xem xét khái niệm về hộ gia đình.
Hộ gia đình là một nhóm những người thường có quan hệ gia đình hoặc đôi khi không có quan hệ gia đình với nhau nhưng cùng thống nhất sở hữu chung về tài sản và các tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và cùng hưởng thụ những thành quả sản xuất chung của họ. Theo nhà kinh tế Hungary J.Kornai “Hộ gia đình như một đơn vị kinh tế. Sản xuất và dịch vụ trong nội bộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân họ”. Như vậy, hộ gia đình thường dùng để chỉ một nhóm người có quan hệ gia đình với nhau.
Các hộ gia đình này có thể tiến hành sản xuất, kinh doanh để phục vụ nhu cầu của gia đình mình. Hộ gia đình dựa trên sỡ hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, hoặc thuê lao động với số lượng lao động ít. Qua thời gian, hoạt động kinh doanh của họ phát triển mạnh, mở rộng quy mô sản xuất cần phải có sự quản lý của pháp luật. Và khái niệm hộ kinh doanh ra đời.
Hộ kinh doanh là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất. Hình thức kinh doanh này chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, việc sử dụng lao động làm thuê không thường xuyên. 10 e Hộ kinh doanh là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất và tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính của mình. Khái niệm về hộ kinh doanh được sử dụng hiện nay được quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 củaChính Phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
Có thể nói hộ kinh doanh gắn liền với việc tự bỏ vốn đầu tư, tự tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình và tự tạo doanh thu, thu nhập bù trừ lãi, lỗ của mình. Đặc điểm và vai trò của hộ kinh doanh 1. Đặc điểm của hộ kinh doanh Từ khái niệm về hộ kinh doanh, ta có thể rút ra các đặc điểm của hộ kinh doanh như sau: - Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc đại diện một nhóm người thành lập, có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Nó khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt với chủ sở hữu của nó.
Trong khi đó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh. Mọi tài sản của hộ kinh doanh đều là tài sản của các nhân tạo lập nên hộ kinh doanh. Cá nhân thành lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau 11 e khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính và các khoản thanh toán khác theo quy định của pháp luật) và chịu mọi nghĩa vụ liên quan. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của hộ kinh doanh, Trường hợp hộ kinh doanh được tạo lập bởi hộ gia đình, thì hộ kinh doanh có bản chất là hộ gia đình kinh doanh.
Do đó hộ kinh doanh cũng không phải là pháp nhân. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay đổ dồn tất cả quyền lợi và gánh nặng quản trị hộ gia đình vào chủ hộ, người đại diện pháp lý trên Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh. Nhưng có một vấn đề cần lưu ý rằng, quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” tại Khoản 1, Điều 68, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 [11, trang. Từ đó một câu hỏi đặt ra là hộ gia đình có được xem là một “tổ chức” theo nghĩa của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hay không; để có thể trờ thành nguyên đơn hoặc bị đơn trước tòa, trong khi chắc chắn hộ gia đình không phải chỉ riêng một cá nhân theo Bộ Luật dân sự 2005 trước đây và Bộ Luật dân sự 2015.Vấn đề có lẽ phụ thuộc vào thực tiễn việc tiến hành tố tụng.
Như vậy có đảm bảo nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Trong thực tiễn tố tụng chủ hộ kinh doanh, thậm chí một cơ sở sản xuất hay một cửa hàng cũng có thể trở thành nguyên đơn và bị đơn trước tòa. Hộ kinh doanh được thành lập bởi một nhóm người không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên có vấn đề cần lưu ý: “Người đứng ra đăng ký thành lập hộ kinh doanh có được xem là người đại diện đương nhiên cho nhóm tạo lập hộ kinh doanh hay không, hay chỉ là người đại diện cho nhóm để thực hiện hành vi đăng ký thành lập hộ kinh doanh, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo thủ tục pháp lý quy định.
Câu trả lời có ý nghĩa quan trọng đối với chế độ chịu trách 12 e nhiệm về các khoản nợ của hộ kinh doanh, vấn đề tư cách tham gia tố tụng và vấn đề quản trị hộ kinh doanh, phụ thuộc vào việc giải thích các quy định thành lập và đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh. - Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh có quy mô rất nhỏ: Đặc điểm này xuất phát từ hình thức hoạt động sản xuất, kinh doanh hộ kinh doanh căn cứ vào các nội dung như: số lượng người lao động được sử dụng trong một hộ kinh doanh, địa điểm sản xuất - kinh doanh. Tại Khoản 3, Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ- CP, văn bản luật quy định hộ kinh doanh sử dụng dưới mười lao động để thể hiện cho mức độ quy mô về số lượng lao động trong hộ kinh doanh được sử dụng sẽ ít hơn so với các mô hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, trên thực tế điều không thật cần thiết cho người kinh doanh, có thể trái ý chí và khả năng kinh doanh của họ, có thể dẫn đến hiện trạng các hộ kinh doanh không khai đúng nội dung đăng ký kinh doanh.
Bên cạnh đó, do tính chất và đặc trưng của từng ngành nghề kinh doanh tạo nên đặc thù, với một cửa hàng cơm bình dân con số người phục vụ có thể lên tới trên chục người lao động thường xuyên, với các công việc như nấu ăn, chạy chợ, phục vụ khách, vệ sinh, trông xe… Hộ kinh doanh theo Nghị định số 78/2015/NĐ- CP chỉ được tiến hành kinh doanh tại “một địa điểm”, thì nó có hiểu là mỗi hộ kinh doanh chỉ có thể có một cửa hàng hoặc một cơ sở sản xuất đặt tại một địa phương nhất định, quy định này trên thực chất không cho phép hộ kinh doanh mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, hay nói cách khác, hạn chế kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. Như vậy quyền tự do kinh doanh phần nào đó có sự hạn chế.