Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần cấp nước Phú Thọ. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần cấp nước Phú Thọ.
download by : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực 1. Một số khái niệm 1.Khái niệm nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resoures) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đây, phương thức quản trị nhân viên (personnel management) với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resoures management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích luỹ tự nhiên trong quá trình lao động phát triển.
Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực như: - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức. download by : skknchat@gmail.com 6 Ngân hàng thế giới (World Bank) cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó.
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng của người lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó. Qua các định nghĩa về nguồn nhân lực có thể thấy khi nói tới nguồn nhân lực ta cần quan tâm tới là: - Số lượng nhân lực: là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho phát triển kinh tế xã hội. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có mối quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số.
Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển đó. - Chất lượng nhân lực: là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.
của người lao động. Trong các yếu tố trên thì thể lực và trí lực là hai yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. - Cơ cấu nhân lực: là yếu tố không thể thiếu khi xem xét, đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.
Nói tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện download by : skknchat@gmail.com 7 tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Trong luâ ̣n văn này , tác giả sử du ̣ng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp, bao gồm số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn lực (thể lực, trí lực và tâm lực). Khái niệm quản lý Trước hết cần thống nhất về viê ̣c sử du ̣ng thuâ ̣t nhữ “quản lý” và “quản trị”. Quản lý: + Trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định.
+ Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Quản trị: là quản lý điều hành công việc hàng ngày. Như vậy, quản lý và quản trị đều là việc trông coi và gìn giữ hoặc tổ chức điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định , song quản trị được dùng một cách cụ thể hơn vào điều hành, tác nghiệp công việc một cách thường xuyên, hàng ngày. Do vâ ̣y, Quản lý nguồn nhân lực hay quản trị nhân lực đều được sử dụng chung.
Nguyễn Ngọc Quân - Ths. Nguyễn Tấ n Thinh, ̣ Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, NXB Giáo dục Viê ̣t Nam). Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, trong đó có những khái niệm sau: Nói đến ý nghĩa của hoạt động quản lý , C.Mác viết: “Bấ t cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn , thì ddeuf phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đa ̣o đó phải làm những chức năng chung tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vâ ̣n đô ̣ng chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hơ ̣p thành cơ thể sản xuấ t đó.
Một nha ̣c sỹ download by : skknchat@gmail.com 8 độc tấu thì tự điều khiển lấy mình , nhưng một dàn nhạc thì cần phải có mô ̣t nhạc trưởng”.Mác, Tư bản, Quyể n thứ nhấ t, chương XIII, Hiê ̣p tác) Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian , tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” .(Những vấ n đề cố t lõi của quản lý , NXB khoa học - Kỹ thuật, 1993) Nguyễn Minh Đa ̣o: “Quản lý là sự tác đô ̣ng chỉ huy , điề u khiể n, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra”(Cơ sở khoa ho ̣c quản ly,́ NXB Chiń h tri ̣quố c gia, Hà Nội, 1997) Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý giáo dục” của các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí… cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới”. Như vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quản lý hệ thống. Cho nên khi đưa các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình.
Nhưng, bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai đối tượng: Người quản lý và đối tượng được quản lý. Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước, tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định đến khách download by : skknchat@gmail.com 9 thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Khái niệm quản lý nhân lực được trình bày theo nhiều góc độ khác nhau: Ở góc độ tổ chức quá trình lao động thì : Quản tri ̣nhân lực là lĩnh vực theo dõi hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt) giữa con người với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lượng…) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con người”. Với tư cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản tri ̣thì “quản tri ̣nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định , tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoa ̣t động liên quan đến việc thu hút , sử dụng và phát triển người lao động trong tổ chức”.
Đi sâu vào chính nô ̣i dung hoa ̣t đô ̣ng của quản lý nhân lực, Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: “Quản lý nhân lực là viê ̣c tuyể n du ̣ng, sử du ̣ng, duy trì và phát triể n cũng như cung cấ p các tiê ̣n nghi cho người lao đô ̣ng trong các tổ chức” Theo Nguyễn Ngọc Quân trong cuốn Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức , có đưa ra quan điểm : Quản lý nguồn nhân lực là mọi hoạt động nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của tổ chức , là tăng cường những đóng góp có hiê ̣u quả của các cá nhân vào mục tiêu của tổ ch ức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu của xã hội và mục tiêu của cá nhân.