Chương 1 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỀ NẾP HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Các nước phát triển trên thế giới đi trước chúng ta rất nhiều năm về mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó coi trọng rèn luyện tính tự lập và đặc biệt công tác xây dựng nề nếp học tập cho học sinh là vấn đề được rất nhiều nhà giáo dục trên thế giới và các bậc phụ huynh quan tâm, bởi công tác giáo dục cho trẻ là rất quan trọng và cần thiết, giáo dục nề nếp có tác dụng to lớn, tác động đến việc giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, giáo dục thẩm mỹ, rèn luyện nghị lực và ý chí, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc đổi mới phát triển bền vững nền kinh tế của đất nước. Việc quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý hoạt động học tập của học sinh thông qua quản lý hoạt động dạy của giáo viên.
Học sinh là chủ thể hoạt động học tập. Tinh thần, thái độ, động cơ, phương pháp học tập quyết định trực tiếp kết quả học tập của bản thân người học [24]. Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học và học tập”.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của người làm công tác quản lý giáo dục. Triết lý giáo dục của J.Komenski là một khoa học luận đúng trong mọi thời đại mặc dù có những khiếm khuyết và được mọi người công nhận.
John Dewey (1859- 1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giảng viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn. Ông viết: Học sinh là mặt trời, xung 6 quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh.Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi (1871 - 1944) đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao giờ học thay cho học viên mà học viênphải tự mình học lấy. Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó”. Tuy nhiên, phải đến những năm 60 của thế kỷ XX, xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý đào tạo thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học trên phương diện lý luận và thực tiễn quản lý.
Trong lĩnh vực quản lý đào tạo, vài thập kỷ gần đây ở nước ngoài cũng xuất hiện những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề quản lý đào tạo, quản lý sinh viên trong các nhà trường đại học [3]. Trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, nhà bác học, nhà văn hóa Nga N.Rubakin (1862 - 1946) đã chỉ ra phương pháp tự học để nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn.Rubakin đặc biệt chú trọng đến việc đọc sách. Ông khẳng định: hãy mạnh dạn tự mình đặt câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học. Năm 1996, hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI đã gửi UNESCO bản báo cáo “Học tập - Một kho báu tiềm ẩn” báo cáo đã phân tích nhiều vấn đề của giáo dục trong thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học, cách học cần phải được dạy cho thế hệ trẻ.
Trong cuốn sách Cách mạng học tập (1999), Cordon Dryden và Jeannette Vos đã đề ra công thức MASTER để hướng dẫn người học phát huy năng lực học tập của bản thân (M: Mind set for success, A: Acquire knowledge, S: Search out the meaning, T: Trigger the memory, E: Exhibit, R: Reflect how to learn). Hầu hết các nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục đều cho rằng: giáo dục ở thế kỷ XXI đã có những thay đổi lớn nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo những con người có năng lực tự quyết định. Trong tương lai gần, mỗi người học 7 sẽ phải có đủ các phẩm chất: tự học (self learning), tự tổ chức (self organizing), tự quyết định (self defining) và tự phát triển (self developing) [3]. Những nghiên cứu ở trong nước Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng.
Ngày nay, phương châm“Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, như Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc quan trọng. Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài không có đức chỉ là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” (dẫn theo [19]). Đảng ta đã chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học. Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, vừa có đức vừa có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên, học sinh [11].
Như chúng ta đã biết, cùng với học tập, việc thực hiện nề nếp, kỷ cương trong trường học của học sinh được xếp vào một trong những Nội dung quan trọng để đánh giá xếp loại thi đua ở Nhà trường. Mỗi người học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường đều có nhiệm vụ rèn luyện phấn đấu để trở thành con ngoan trò giỏi, phát triển con người một cách toàn diện, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động học tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục đạo đức, bán trú, nội trú của học sinh THPT gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: 8 Tác giả Mai Tiến Dũng (2013), khi nghiên cứu “Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang”, đã đề cập đến một số lý luận về hoạt động học tập của học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang [11] hay tác giả Nguyễn Như Sơn cùng hướng nghiên cứu về vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bán trú trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” cũng đã cho thấy được hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bán trú trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, để từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Cùng hướng nghiên cứu về “Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” tác giả Đoàn Út Bẩy Đề có chỉ rõ thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang cũng như đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang [4].
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật trong học tập như nghiên cứu của tác giả Vũ Quang Hải về vấn đề “Nghiên cứu quy trình tổ chức giáo dục kỷ luật trong nhà trường quân đội” hay tác giả Phạm Minh Hùng với nghiên cứu “Biện pháp giáo dục tính kỷ luật trong hoạt động học tập trên lớp cho học sinh đầu bậc tiểu học”. các nghiên cứu này đã chỉ ra tính kỷ luật học tập là một trong những hành vi đạo đức, lối sống của người học trong nhà trường. Tính kỷ luật trong học tập như là yêu cầu thiết lập trật tự của hoạt động học tập trong nhà trường, có ảnh hưởng, tác động đến kết quả học tập của học sinh. 9 Trong các nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau của công tác quản lý học sinh THPT các tác giả đã chỉ ra vai trò tầm quan trọng của hoạt động học tập, các kỹ năng tự học và một số biện pháp tổ chức hoạt động cho học sinh.
Tuy nhiên về vấn đề nề nếp học tập và quản lý nề nếp học tập, trong đó quản lý chuyên cần hàng ngày của học sinh vùng dân tộc thiểu số ít được các tác giả quan tâm. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về học tập, biện pháp quản lý nề nếp học tập của các trường THPT vùng cao là rất thiết thực. Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề “Quản lý nề nếp học tập của học sinh ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1.Mác đã chỉ rõ: “Bất cứ một lao động xã hội nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà các hoạt động cá nhân… Một nghệ sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7].