CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LAP 1. Tạo động lực cho người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị sự nghiệp có thu: * Đơn vị sự nghiệp công lập: Trong các tô chức thuộc cơ quan quản lý nhà nước, có rất nhiều các tổ chức đơn vị SNCL.
Đơn vị dạng này có thâm quyền của Nhà nước và được thành lập theo quy định của pháp luật. Các đơn vị SNCL có thể thực hiện các công tác quản lý nhà nước hoặc một số hình thức kinh doanh phù hợp. Theo nghiên cứu, định nghĩa về đơn vị SNCL như sau “Đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cắp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. “Don vi SNCL do co quan có thẩm quyền của nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” * Đơn vị sự nghiệp có thu: Qua khái niệm về đơn vị SNCL như trên, ta có thể hiểu đơn vị sự nghiệp có thu là một loại đơn vị SNCL có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thắm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của luật kế toán.
Các loại hình đơn vị SNCL: Theo nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ thì có 4 loại đơn vị sự nghiệp công: * Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chỉ thường xuyên và chỉ đầu tư: Là những đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu bảo đảm cho việc chỉ đầu tư,các khoản chỉ thường xuyên và các khoản chỉ không thường xuyên khác * Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chỉ thường xuyên Là những đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu bảo đảm cho các khoản chỉ thường xuyên và các khoản chỉ không thường xuyên khác, nhưng không đủ chỉ cho. * Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phẫn chỉ thường xuyên Là những đơn vị sự nghiệp công do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chỉ phí được nhà nước đặt hang, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chỉ phí, nguồn thu chỉ mới đảm bảo một phần các khoản chỉ thường xuyên và các khoản chỉ không thường xuyên khác. * Đơn vị sự nghiệp công do nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên. Là những đơn vị sự nghiệp công do nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thâm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp, không thể chỉ cho đầu tư, các khoản chỉ thường xuyên và các khoản chỉ không thường xuyên khác.
Tạo động lực cho người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập. Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về một điều gì đó và mong muốn được đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người, cộng đồng và xã hội. Động lực: Bất kì một tổ chức nào cũng mong muốn người lao động của mình hoàn thành công việc với hiệu suất cao để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiện trong tập thể lao động luôn có những người lao động làm việc hãng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhưng cũng có những. người lao động làm việc trong trang thái uễ oải, thiếu hứng thú trong lao động, thờ ơ với công việc và thậm chí bỏ việc.Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của động lực lao động: “Đông lực là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thoả mãn được nhu cầu của bản thân người lao động” 10 “Đông lực là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện nỗ lực sin sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức cũng như bản thân người lao động” “Đông lực là tất cả những gì thôi thúc con người, thúc đẩy con người hãng hái làm việc” Từ những khái niệm và cách hiểu khác nhau về động lực, cách hiểu chung. nhất là: “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thuc đây con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghỉ và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ”.
Tiêu chi đo lường động lực làm việc của người lao động: Các tiêu chí đo lương động lực làm việc của người lao động trong đơn vị SNCL được thể hiện như: Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, khả năng sang. tạo, sự cống hiết Để đo lường động lực làm việc của người lao động trong đơn vị SNCL có thể thông qua các tiêu chí sau: - Sự yêu thích công việc mà người lao động đang đảm nhận. - Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người lao động trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. = Su sang tao, cai tiến phương pháp làm việc và khắc phục khó khan dé đạt được kết quả cao trong công việc.
~ Việc đánh giá của người lao động đối với cấp lãnh đạo, quản lý, môi trường. làm việc hay văn hóa công sở. - Việc tự giác chấp hành, thực hiện các nội quy và quy chế của cơ quan. - Sự đóng góp của người lao động để xây dựng tổ chức cũng như việc người lao động nhìn nhận được vai trò, vị trí và đóng góp của mình trong đơn vị SNCL mà học đang làm việc.
Tạo động lực cho người lao động: Tạo động lực cho người lao động không phải là vấn đề mới trong quản lý của tổ chức nói chung cũng như trong các đơn vị SNCL nói riêng, nhưng để tạo và duy trì động lực cao cho người lao động không phải là việc dễ làm đối với nhà quản lý. trong don vi SNCL. Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả mặt vật chất và tỉnh thần. Khi người lao động cảm thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đây người lao động làm việc hãng say hơn.
Đối với cá nhân người lao động không có động lực thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không. có được sự sáng tạo hay cố gắng phán đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang. làm như một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý trong đơn vị SNCL cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc cho người lao động Có động lực lao động giúp người lao động trong đơn vị SNCL có gắng, nỗ lực hơn để đạt được mục tiêu hay mục đích của người lao động.
Tạo động lực còn giúp cho người lao động trong đơn vị SNCL có nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Tạo động lực sẽ đánh thức tiềm năng làm việc của người lao động, làm cho. người lao động nhiệt tình hăng say cống hiến hết sức mình cho đơn vị SNCL, làm. cho người lao động được thỏa mãn, được tôn trọng trong lao động, giúp họ thực hiện được những khát vọng chính đáng của con người, tránh sự nhàm chán và bắt mãn của người lao động trong môi trường cơ quan nhà nước Sự lao động nhiệt tình hăng say, công hiến công sức, trí tuệ của những người lao động hết lòng vì đơn vị là vấn đề không thê thiếu đối với mỗi đơn vị SNCL.
Trước tiên, tạo động lực cho người lao động sẽ giúp đơn vị SNCL đạt được các mục tiêu đã đề ra, xây dựng đơn vị phát triển. Bởi vì sự tồn tại và phát triển của đơn vị SNCL phụ thuộc rất lớn đến nỗ lực làm việc của đội ngũ người lao động. 12 Tạo động lực đề người lao động làm việc chăm chỉ hơn, cống hiến hết mình, gắn bó với đơn vị lâu dài. Tạo động lực cho người lao động sẽ khắc phục được các mặt tiêu cực, tạo ra sự gắn kết giữa người lao động với đơn vị SNCL, giữ được những người lao động.
giỏi, tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó của người lao động, giúp đơn vị SNCL giảm chỉ phí tuyển và đảo tao lao động mới Bất cứ đơn vị SNCL nào cũng cần phải tạo động lực lao động cho người lao. Tạo động lực không những kích thích tâm lý làm việc cho người lao nó còn giúp tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động, là yé định đến sự tổn tại và phát triển của đơn vị SNCL. Vi vay ta có thể hiểu tạo động lực cho người lao động trong đơn vị SNCL là việc sử dụng tất cả các biện pháp của nhà quản lý áp dụng để người lao động trong. đơn vị SNCL có động lực.
Đơn vị SNCL nào cũng cần phải tạo động lực lao động cho người lao động. Tạo động lực giúp cho người lao động trong đơn vị SNCL có. nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công. việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình.
Tạo động lực không những. kích thích tâm lý làm việc cho người lao động mà nó còn giúp tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị SNCL. Các cách tiếp cận về tạo động lực: Có ba phương pháp tiếp cận phổ biến về tạo động lực cho người lao động, cụ thể như sau - Phương pháp tiếp cận dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu: bao gồm các học thuyết tập trung trả lời cho những câu hỏi như: Những nhu cầu của con người đạt được sự thỏa mãn trong công việc”; Những yếu tố nào tạo động lực cho con người hành động?, ~ Phương pháp tiếp cận theo quá trình. ~ Phương pháp sử dụng học thuyết về sự tăng cường.
Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực cho người lao động.