Tổng quan nghiên cứu

Công tác quản lý an toàn thực phẩm đang là thách thức y tế công cộng và kinh tế - xã hội hàng đầu tại nhiều quốc gia đang phát triển. Theo số liệu báo cáo từ Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, toàn quốc đã ghi nhận tới 960 vụ ngộ độc thực phẩm với 10.321 người mắc và 96 trường hợp tử vong. Tại tỉnh Salavan, một địa phương miền Nam với diện tích rộng lớn, quy mô dân số khoảng 350.000 người sinh sống tại 8 huyện và 606 bản làng, áp lực kiểm soát chuỗi cung ứng thực phẩm ngày càng gia tăng. Nằm ở vị trí trung tâm kết nối các tỉnh Savannakhet, Sê Kông, Champasak, đồng thời có đường biên giới tiếp giáp với Thái Lan ở phía Đông và Việt Nam ở phía Nam, Salavan trở thành đầu mối giao thương nông sản, thực phẩm nhộn nhịp nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn vệ sinh.

Trong giai đoạn từ năm 2015 đến nửa đầu năm 2020, tỉnh Salavan đã ghi nhận 25 vụ ngộ độc thực phẩm, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 5 vụ với 135 nạn nhân phải nhập viện điều trị. Tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, lạm dụng hóa chất bảo quản và sự buông lỏng kiểm soát tại các chợ truyền thống vẫn diễn biến phức tạp. Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Salavan trong giai đoạn 2016 - 2020.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá sâu sắc thực trạng quản lý thông qua khảo sát định lượng tiến hành vào tháng 02 năm 2021, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính ứng dụng cao nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương cho giai đoạn định hướng đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận về quản lý hành chính công và quản lý kinh tế nhà nước, tiếp cận theo quan điểm của các học giả chuyên ngành như Phan Huy Đường và hướng dẫn quản trị của Liên Hợp Quốc. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được định vị là hoạt động thực thi quyền lực hành pháp nhằm điều chỉnh các hành vi sản xuất, chế biến, lưu thông và tiêu dùng thực phẩm thông qua hệ thống thể chế, pháp luật và công cụ kiểm soát chuyên ngành.

Khung lý thuyết của luận văn kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc quản lý chất lượng theo chuỗi cung ứng "từ nông trại đến bàn ăn". Điều này dựa trên việc vận hành các tiêu chuẩn quốc tế theo tiêu chuẩn Codex Stan 1-1985 và các hệ thống quản lý an toàn tiên tiến gồm Thực hành sản xuất tốt, Thực hành nông nghiệp tốt, Thực hành vệ sinh tốt và Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn.

Cơ sở pháp lý then chốt của nghiên cứu bao gồm Luật An toàn thực phẩm nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ban hành năm 2018 và Luật Xử lý vi phạm hành chính ban hành năm 2012. Bốn khái niệm trọng tâm được xác lập rõ ràng gồm: Thực phẩm, An toàn thực phẩm, Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và Cơ chế phối hợp quản lý liên ngành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích thông tin thứ cấp và điều tra định lượng sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Salavan, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh và báo cáo chuyên đề từ Phòng Y tế tỉnh Salavan trong giai đoạn 2016 - 2018.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp 40 cán bộ công chức phụ trách công tác an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh vào tháng 02 năm 2021. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc đúng những cán bộ đang trực tiếp tham gia quản lý và thực thi chính sách tại ba cơ quan nòng cốt: Sở Nông Lâm nghiệp chiếm tỷ lệ 40,0% (16 người), Sở Y tế chiếm 37,5% (15 người) và Sở Công thương chiếm 22,5% (9 người). Mẫu khảo sát gồm 52,5% nam giới (21 người), 47,5% nữ giới (19 người); cơ cấu độ tuổi gồm 25,0% dưới 30 tuổi, 62,5% từ 31 đến 45 tuổi và 12,5% trên 45 tuổi; trong đó có 12,5% giữ chức vụ lãnh đạo quản lý và 87,5% là chuyên viên thực thi.

Toàn bộ dữ liệu điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 5 mức độ được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả (tần số, phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn) giúp lượng hóa chính xác các chỉ số đánh giá về hiệu lực chính sách, tính minh bạch và năng lực của bộ máy hành chính, loại bỏ tối đa các nhận định cảm tính chủ quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng từ 40 mẫu khảo sát cán bộ công chức quản lý đã chỉ ra 4 phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, về tính phù hợp và khả năng triển khai văn bản quy phạm pháp luật: Tiêu chí chính sách an toàn thực phẩm phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương đạt mức điểm trung bình cao nhất là 4,00 trên thang điểm 5 (độ lệch chuẩn 0,679). Tuy nhiên, tính kịp thời trong việc triển khai các văn bản pháp luật chỉ đạt mức trung bình 3,23 (độ lệch chuẩn 0,733), với 65,0% cán bộ đánh giá ở mức bình thường và 7,5% ý kiến đánh giá chưa kịp thời.

Thứ hai, về cơ cấu tổ chức và sự phân công trách nhiệm: Sự phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các đơn vị liên quan chỉ đạt điểm trung bình 3,33 (độ lệch chuẩn 0,829), trong đó có tới 12,5% cán bộ không đồng ý và 52,5% đánh giá ở mức bình thường. Hiệu quả trao đổi thông tin liên ngành giữa các sở ban ngành đạt mức điểm 3,60.

Thứ ba, về năng lực nhân sự và chất lượng bồi dưỡng chuyên môn: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ đạt điểm trung bình 3,63, với 50,0% cán bộ đánh giá tích cực. Tuy nhiên, tính hữu ích và thiết thực của các chương trình đào tạo nghiệp vụ hiện nay chỉ đạt 3,38 điểm (độ lệch chuẩn 0,897), khi có tới 15,0% ý kiến không đồng ý và 45,0% đánh giá mức độ hữu ích chỉ ở mức trung bình.

Thứ tư, về hoạt động thanh tra, kiểm tra và chế tài xử phạt: Hiệu quả thanh tra, kiểm tra đạt điểm trung bình 3,53, trong khi công tác xử lý vi phạm pháp luật chỉ đạt 3,40 điểm (độ lệch chuẩn 0,672). Có tới 62,5% cán bộ khảo sát nhận định việc xử lý vi phạm mới chỉ đạt mức bình thường, chưa tạo được tính răn đe mạnh mẽ đối với các cơ sở sản xuất, chế biến.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy công tác quản lý an toàn thực phẩm tại Salavan đang tồn tại khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu chính sách và thực tiễn thực thi. Dữ liệu khảo sát phản ánh rõ sự bất cập khi tỷ lệ cán bộ quản lý chỉ chiếm 12,5% nhưng phải điều hành mạng lưới rộng khắp 8 huyện lỵ. Khi trình bày dữ liệu thông qua biểu đồ so sánh các nhóm tiêu chí quản lý, khoảng cách giữa mức độ hoàn thiện thể chế và hiệu quả xử lý vi phạm trên thực tế bộc lộ rất rõ nét.

Nguyên nhân căn bản của hạn chế này xuất phát từ việc thiếu hụt nguồn kinh phí chuyên dụng (tiêu chí đáp ứng kinh phí chỉ đạt 3,52 điểm) và sự chồng chéo chức năng giữa Sở Y tế, Sở Nông Lâm nghiệp và Sở Công thương. Tình trạng này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Vân tại tỉnh Tuyên Quang và Trần Thị Khúc tại tỉnh Bắc Ninh, khi các địa phương đều gặp điểm nghẽn lớn trong cơ chế phối hợp liên ngành và thiếu trang thiết bị kiểm nghiệm nhanh tại hiện trường. Bên cạnh đó, việc chưa có chế độ phụ cấp đặc thù ngành khiến đội ngũ thanh tra viên chưa thực sự gắn bó lâu dài với công tác giám sát an toàn thực phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hoàn thiện toàn diện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Salavan đến năm 2025, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quy chuẩn kỹ thuật địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh Salavan chủ trì phối hợp với Sở Y tế và Sở Nông Lâm nghiệp rà soát, ban hành quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng trước năm 2023, phấn đấu 100% các văn bản hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm 2018 được cụ thể hóa sát hợp với đặc thù kinh tế biên giới của tỉnh.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tỉnh cần thành lập Ban chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm thống nhất từ cấp tỉnh đến 8 huyện lỵ. Sở Nội vụ cùng Sở Y tế xây dựng đề án bổ sung biên chế chuyên trách, đặt mục tiêu đến năm 2024 có 100% cán bộ thực thi được tham gia các khóa đào tạo thực hành chuyên sâu, đồng thời đề xuất cơ chế phụ cấp ngành nghề thỏa đáng nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba, tăng cường đầu tư nguồn lực tài chính và phương tiện kiểm nghiệm kỹ thuật. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh cần bố trí ngân sách thường xuyên, nâng tỷ lệ đáp ứng kinh phí các chương trình mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm lên mức tối thiểu 85% vào năm 2025. Đầu tư trang bị xe kiểm nghiệm lưu động và các bộ test kit thử nhanh cho mạng lưới y tế cơ sở tại 606 bản làng.

Thứ tư, siết chặt kỷ cương thanh tra, kiểm tra và nghiêm minh trong xử lý vi phạm. Đội thanh tra liên ngành tăng cường kiểm tra đột xuất tại các cơ sở chế biến, phấn đấu đạt tỷ lệ kiểm tra định kỳ trên 90% số cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn, kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính và công khai minh bạch 100% danh tính các đơn vị vi phạm trên cổng thông tin điện tử tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý công tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đề tài cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá mức độ tương thích của Luật An toàn thực phẩm 2018 khi áp dụng tại các địa phương vùng ven, hỗ trợ xây dựng chính sách phân cấp quản lý phù hợp cho chính quyền cấp tỉnh và huyện.

Thứ hai, các cơ quan thực thi pháp luật chuyên ngành gồm Sở Y tế, Sở Nông Lâm nghiệp, Sở Công thương và Ban quản lý an toàn thực phẩm tại các tỉnh Nam Lào. Dữ liệu phân tích giúp nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong quy trình cấp phép, thanh tra và xử lý vi phạm hành chính tại địa bàn.

Thứ ba, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế học phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp dữ liệu thứ cấp với khảo sát thống kê định lượng SPSS trong đánh giá hiệu quả chính sách công.

Thứ tư, các hiệp hội doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất nông sản và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Nghiên cứu giúp các đơn vị nắm vững khung pháp lý, hiểu rõ các tiêu chuẩn kiểm soát kỹ thuật như Thực hành sản xuất tốt và Phân tích mối nguy kiểm soát điểm tới hạn để chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Tình hình ngộ độc thực phẩm tại tỉnh Salavan diễn biến như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Trong giai đoạn 2015 đến giữa năm 2020, tỉnh Salavan ghi nhận 25 vụ ngộ độc thực phẩm với mức bình quân 5 vụ mỗi năm và khoảng 135 nạn nhân/năm. Con số này chiếm một phần đáng kể trong tổng số 960 vụ ngộ độc trên toàn quốc của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 2015 - 2019, phản ánh tính cấp bách của công tác kiểm soát an toàn thực phẩm tại địa phương.

Đâu là trở ngại lớn nhất trong tổ chức bộ máy quản lý an toàn thực phẩm tại Salavan?
Trở ngại lớn nhất là sự phân định nhiệm vụ chưa thực sự rõ ràng giữa ngành Y tế, Nông Lâm nghiệp và Công thương, thể hiện qua điểm đánh giá chỉ đạt 3,33 trên thang điểm 5,00. Có tới 12,5% cán bộ khảo sát khẳng định chức năng giữa các đơn vị vẫn còn tình trạng trùng lặp hoặc bỏ trống địa bàn quản lý.

Quy mô và đặc điểm của mẫu khảo sát trong luận văn được thiết kế ra sao?
Nghiên cứu khảo sát 40 cán bộ công chức quản lý nhà nước tại ba sở nòng cốt: Sở Nông nghiệp chiếm 40,0%, Sở Y tế chiếm 37,5% và Sở Công thương chiếm 22,5%. Mẫu có 62,5% cán bộ trong độ tuổi từ 31 đến 45 tuổi và 87,5% là công chức trực tiếp thừa hành nhiệm vụ chuyên môn.

Luận văn đưa ra giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra?
Nghiên cứu đề xuất thành lập đoàn thanh tra liên ngành thường trực, đẩy mạnh kiểm tra đột xuất kết hợp ứng dụng trang thiết bị kiểm nghiệm nhanh. Mục tiêu đặt ra là kiểm tra định kỳ trên 90% cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và xử lý dứt điểm 100% hành vi vi phạm pháp luật phát hiện được.

Tại sao công tác đào tạo cán bộ an toàn thực phẩm tại địa phương chưa đạt hiệu quả cao?
Tiêu chí tính hữu ích của các chương trình đào tạo chỉ đạt 3,38 điểm, với 15,0% cán bộ đánh giá không hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu do nội dung bồi dưỡng còn nặng về lý thuyết văn bản, thiếu các buổi thực hành nghiệp vụ thanh tra thực địa và phân tích mẫu xét nghiệm thực phẩm.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu với những đóng góp quan trọng:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung thể chế quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phản ánh trung thực thực trạng quản lý an toàn thực phẩm tại tỉnh Salavan giai đoạn 2016 - 2020 qua nguồn dữ liệu điều tra định lượng tin cậy từ 40 cán bộ chuyên trách.
  • Nhận diện chính xác các hạn chế cốt lõi về sự chậm trễ trong ban hành văn bản quy phạm, chồng chéo chức năng liên ngành và thiếu hụt trang thiết bị kiểm nghiệm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao, gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Salavan đến năm 2025.
  • Đóng góp nguồn tài liệu học thuật và căn cứ thực tiễn giá trị cho việc nâng cao năng lực quản trị công trong lĩnh vực y tế dự phòng và bảo vệ sức khỏe nhân dân tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để hiện thực hóa các giải pháp được đề xuất trong luận văn. Việc nâng cao hiệu lực quản lý an toàn thực phẩm không chỉ bảo vệ trực tiếp sức khỏe của 350.000 người dân Salavan mà còn là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng thương mại, du lịch và an sinh xã hội bền vững cho địa phương.