CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ KINH PHÍ NGHIÊN CỨU KH&CN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề quản lý kinh phí đối với hoạt động KH&CN nói chung, trong các trường đại học nói riêng đã được trình bày trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và một số công trình nghiên cứu của Việt Nam. Trên phạm vi thế giới, nhiều công trình trong nghiên cứu giáo dục đại học đã đề cập tới vấn đề này. Nổi bật là trong cuốn: Khoa học và công nghệ thế giới những năm dau thé kỷ XXI do Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ thuộc Bộ KH&CN xuất bản năm 2006 ” đã khái quát khá chỉ tiết kinh nghiệm các nước về đầu tư cho KH&CN nói chung, đầu tư tài chính cho KH&CN trong các trường đại học nói riêng, nêu bật kinh nghiệm các nước, như Mỹ, Canada, Cộng hoà Liên bang Đức, Anh Quốc, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Thái Lan,.
về đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN, những nhận thức và quan niệm về vai trò của nghiên cứu khoa học va công nghệ, tam quan trọng của nguồn lực tài chính, cơ cấu nguồn dau tư tài chính và trình bay các biện pháp thực hiện dau tư tài chính cho khoa học và công nghệ trong các trường đại học. Và, chính những thông tin, kết quả được công bố từ các nguồn tài liệu trên đã được tác giả luận văn kế thừa và vận dụng trong quá trình thực hiện chủ đề trên. Ở nước ta, những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề tài chính của nền kinh tế cũng như cho hoạt động giáo dục va dao tạo và hoạt động KH&CN trong các trường đại học. Có thể nêu lên một số công trình mà ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác đã đề cập đến quản lý kinh phí cho KH&CN nói chung, cho các trường đại học nói riêng.
Cụ thé là: Lý luận và phương pháp luận khoa học (Vũ Cao Đàm, 2009, NXB ĐHQG HN); Giáo trình Khoa học chính sách (Vũ Cao Đàm, 2010, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội). Về các đề tài nghiên cứu, có thể nêu một số công trình thuộc đề 11 tài nghiên cứu cấp Bộ, như: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN trong các Trường Đại học Việt Nam (đề tài cấp Bộ, mã số: B2003.76TD, Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm); Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các Trường Đại học công lập ở Việt Nam (đề tài cấp Bộ, mã số: B2005.125, Pham Hồng Chương, 2005); Đổi mới tô chức và quản lý hoạt động Nghiên cứu Khoa học kinh tế phục vụ đào tạo và thực tiễn (Đề tài cấp Bộ B2003.70,Vũ Duy Hào làm chủ nhiệm).Gần đây nhất, năm 2011, dé tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội đã được thực hiện với chủ đề: “Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá đào tạo và hoạt động khoa học khoa học xã hội & nhân văn ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay (Qua nghiên cứu và khảo sát trường hợp Đại học Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), mã số: QGTĐ.TS Phạm Xuân Hằng làm Chủ nhiệm đề tài. Một số nội dung chủ yếu được đề cập và nhấn mạnh của các công trình nghiên cứu trên là: Đề cập đến các khái niệm, về cơ chế quản lý tài chính, về NS nhà nước; phân tích cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học trong các trường đại học Việt Nam; phân loại nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động này.Đó là những kết quả nghiên cứu rất hữu ích cho luận văn này. Nhưng, để có được những gợi mở cụ thể về chế độ thanh quyết toán tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở các đại học trọng điểm, chuyên ngành thì chưa được đề cập đến một cách cụ thể, mới chỉ dừng lại ở từng nội dung, vấn đề riêng lẻ chứ chưa được trình bày một cách có hệ thống.
Về cơ chế tài chính áp dụng cho khoa học và công nghệ nói chung và vấn đề đầu tư, quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học ở các trường đại học công lập Việt Nam còn được dé cập đến trong một số công trình nghiên cứu dưới hình thức bài viết công bố trên tạp chí chuyên ngành, hội thảo như: Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN (Nguyễn Thị Anh Thư, Tạp chí Hoạt động khoa học, 12 3/2006); Quan lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp khoa học giai đoạn 2001- 2005, những bat cập và kiến nghị (Tran Xuân Tri, Tạp chí Kiểm toán, 9/2006);. Tap chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10.2012 (641): Những van đề mới trong xây dựng đề tài, dự án khoa học &công nghệ cấp Nhà nước và đổi mới cơ chế tài chính trong nghiên cứu, triển khai của Trần Ngoc Hiên; Mô hình đại học nghiên cứu ở Việt Nam (Nguyễn Thị Lê Hương, Dao Hiền Chi, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 10. Gần đây nhất, trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 14-2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã cập nhật một số nội dung về Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 qua cuộc trao đổi và phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nghiêm Vũ Khải, trong đó có đề cập đến cơ chế tài chính cho Khoa học và Công nghệ; Các công trình trên đã nêu những nội dung cơ bản sau: Khang định vai trò, tầm quan trọng và sự đóng góp của các trường đại học vào sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ nước nhà, nhất là từ sau đổi mới đến nay; nêu ra những vấn dé xung quanh việc đổi mới nhận thức mối quan hệ giữa “đội quân thứ nhất” - lực lượng khoa học ở các trường đại học với việc thực hiện phát triển khoa học và công nghệ hiện nay; Về cơ chế tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, chế tài quản lý tài chính theo chế độ NS nhà nước cho lĩnh vực này; Gợi mở những vấn đề về quản lý kinh phí trong nghiên cứu khoa học của các trường đại học và đưa ra những bắt cập cần giải quyết. Do vậy, trong phạm vi luận văn này, ngoài việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã nêu trên, sẽ nghiên cứu về cơ chế tài chính đối với hoạt động, nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, qua khảo sát một đơn vị cụ thể là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - Là một trong những trung tâm, một đại học đầu ngành và trọng điểm trong hệ thống đại học Việt Nam có sứ mệnh đào tạo và nghiên cứu các khoa học khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam hiện nay.
13 Một mảng tư liệu không kém phan quan trong để cung cấp những thông tin, số liệu, đồng thời gợi mở những vấn đề trong nghiên cứu của luận văn này là các Luận án, Luận văn của các nghiên cứu sinh, học viên cao học đã thực hiện. Cụ thể là: Đổi mới vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động Khoa học Công nghệ ở Việt Nam hiện nay (Vũ Thị Hiền, 2005, LVThS); Biện pháp đảm bảo thực hiện chức năng Nghiên cứu Khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (Đỗ Văn Thắng ,2006, LVThS);.Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo rất hữu ích khi thực hiện luận văn. Nhìn chung, các công trình trên chủ yếu mới phân tích cơ chế tài chính cho KH&CN nói chung.
Ngay cả các công trình nghiên cứu về quản lý kinh phí cho KH&CN trong các trường đại học cũng chưa làm rõ được đặc điểm, nội dung của quản lý kinh phí cho KH&CN trong các trường đại học trên phương diện huy động nguồn và sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN của khu vực này. Điều này dẫn đến thiếu những luận cứ khoa học cho việc đổi mới cơ chế tài chính nhằm đây mạnh hoạt động KH&CN trong các trường đại học ở nước ta. Cơ sở lý luận về quán lý kinh phí nghiên cứu KH&CN 1. Khái niệm Quán lý kinh phí là quá trình mà chủ thê quản lý, thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiển hoạt động tài chính nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Quan lý kinh phí nghiên cứu KH&CN là “tổng thể các biện pháp, các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn kinh phí được cung cấp cho hoạt động KH&CN trong các trường đại học” [11314] Trong đó, chủ thể cao nhất là Nhà nước, tiếp theo là các cơ quan nhà nước được nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Cơ quan được giao chức năng, nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài chính thông thường là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước 14 Quản lý nghiên cứu KH&CN trong trường đại học có những đặc điểm chung như quản lý kinh phí trong nền kinh tế và trong hoạt động KH&CN nói chung. Đó là những biện pháp, hình thức tổ chức quản lý việc tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn kinh phí được cung cấp cho hoạt động KH&CN. Vì thế, nó thể hiện quan hệ phân phối lợi ích giữa nhà nước với ngành KH&CN, giữa ngành với các đơn vị hoạt động trong ngành, giữa các đơn vị hoạt động trong ngành với nhau, cũng như giữa các nhà nghiên cứu khoa học với các đơn vị mà họ hoạt động.
Do phải giải quyết các mối quan hệ lợi ích nên cơ chế tài chính nói chung, quản lý kinh phí cho hoạt động KH&CN nói riêng rất nhạy cảm. Nó liên quan đến phân phối nguồn vốn của xã hội. Việc phân phối đúng sẽ thúc đây nền kinh tế nói chung, hoạt động KH&CN nói riêng phát triển và ngược lại. Đối với các trường đại học, quản lý kinh phí nghiên cứu KH&CN phản ánh sự vận động của các nguồn tài chính giữa nhà trường với xã hội nhằm đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu KH&CN trong các trường đại học, qua đó quan hệ lợi ích giữa một bên là nhà trường, với các đơn vị trực thuộc trường cùng giảng viên, các nhà nghiên cứu với Nhà nước, các doanh nghiệp, dân cư và người tiêu dùng, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước được thực hiện.