Luận văn Thạc sĩ: Quản lý khám chữa bệnh BHYT tại BHXH huyện Đăk Glei, Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hội huyện đăk glei tỉnh kon tum, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý khám chữa bệnh BHYT tại Đăk Glei

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế về quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (KCB BHYT) tại Bảo hiểm xã hội (BHXH) huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống. Đề tài này phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý KCB BHYT tại một huyện miền núi có nhiều đặc thù. Bối cảnh nghiên cứu cho thấy, tại Đăk Glei, tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt mức rất cao (99% dân số, tương đương 46.736 người tính đến năm 2018), chủ yếu là nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ. Điều này đặt ra áp lực lớn lên quản lý quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Chi phí KCB liên tục gia tăng, từ 83.113 lượt năm 2016 lên 91.510 lượt năm 2018, với tổng chi phí năm 2018 vượt 18 tỷ đồng. Sự gia tăng này không chỉ do nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng mà còn tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT. Do đó, việc nghiên cứu và tìm ra một mô hình quản lý KCB BHYT hiệu quả là yêu cầu cấp bách. Luận văn không chỉ hệ thống hóa các khái niệm, nội dung, và tiêu chí đánh giá quản lý KCB BHYT mà còn đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng, từ chính sách bảo hiểm y tế của nhà nước đến các yếu tố nội tại của cơ quan BHXH và các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền lợi người tham gia BHYT, đảm bảo quỹ BHYT được sử dụng an toàn, hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp an sinh xã hội tại địa phương.

1.1. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về BHYT tại địa phương

Công tác quản lý nhà nước về BHYT đóng vai trò xương sống trong việc đảm bảo hệ thống an sinh xã hội vận hành ổn định. Tại một địa bàn như Đăk Glei, nơi có tỷ lệ lớn người dân tộc thiểu số và người nghèo, vai trò này càng trở nên quan trọng. Quản lý hiệu quả giúp đảm bảo mọi người dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế, được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng mà không gặp rào cản tài chính. Luận văn nhấn mạnh, quản lý KCB BHYT không chỉ là việc giám sát chi tiêu, mà còn là công cụ để nhà nước điều tiết, định hướng các cơ sở khám chữa bệnh nâng cao chất lượng dịch vụ. Thông qua các hoạt động như ký hợp đồng, giám định chi phí BHYT, và thanh kiểm tra, vai trò của BHXH huyện được thể hiện rõ nét trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bệnh và ngăn chặn các hành vi lãng phí, tiêu cực. Một hệ thống quản lý chặt chẽ sẽ góp phần thực hiện thành công mục tiêu BHYT toàn dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài đặt ra ba mục tiêu cụ thể: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý KCB BHYT; (2) Phân tích, đánh giá hiệu quả chính sách BHYT và thực trạng quản lý tại BHXH huyện Đăk Glei, chỉ ra những thành tựu và hạn chế; (3) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý BHYT một cách toàn diện. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn rất rõ ràng. Kết quả nghiên cứu cung cấp một bức tranh chi tiết về công tác quản lý BHYT tại một huyện miền núi, có thể làm tài liệu tham khảo quý báu cho BHXH tỉnh Kon Tum và các huyện có điều kiện tương tự. Các giải pháp được đề xuất không chỉ mang tính lý thuyết mà còn bám sát thực tiễn, có khả năng ứng dụng cao để giải quyết các khó khăn trong quản lý BHYT tại địa phương, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và sử dụng hiệu quả nguồn quỹ BHYT.

II. Cách nhận diện khó khăn trong quản lý BHYT tại Đăk Glei

Việc nhận diện các thách thức là bước đầu tiên để hoàn thiện công tác quản lý KCB BHYT. Luận văn đã chỉ ra một cách có hệ thống thực trạng quản lý khám chữa bệnh BHYT tại huyện Đăk Glei trong giai đoạn 2016-2018. Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định trong việc mở rộng đối tượng tham gia và đảm bảo quyền lợi cơ bản cho người dân, công tác quản lý vẫn đối mặt với nhiều bất cập nghiêm trọng. Vấn đề nổi cộm nhất là tình trạng gia tăng chi phí KCB một cách bất thường, gây áp lực lớn lên cân đối quỹ. Nguyên nhân sâu xa đến từ nhiều phía. Thứ nhất, việc lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT vẫn còn diễn ra dưới các hình thức tinh vi như chỉ định dịch vụ kỹ thuật, xét nghiệm không cần thiết, lạm dụng chính sách thông tuyến để thu dung bệnh nhân điều trị nội trú. Thứ hai, năng lực quản lý của cán bộ giám định còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển của các dịch vụ y tế mới. Thứ ba, sự phối hợp giữa cơ quan BHXH và các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện chưa thực sự chặt chẽ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giám định chi phí BHYT tuy đã triển khai nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc. Những khó khăn trong quản lý BHYT tại địa phương này nếu không được giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của quỹ BHYT và làm giảm sút niềm tin của người dân.

2.1. Phân tích thực trạng quản lý KCB BHYT giai đoạn 2016 2018

Giai đoạn 2016-2018 chứng kiến sự gia tăng đáng kể cả về số lượt và chi phí KCB BHYT tại Đăk Glei. Số liệu từ luận văn cho thấy chi phí KCB ngoại trú và nội trú đều tăng, trong đó chi phí cho thuốc, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật chiếm tỷ trọng lớn. Mặc dù công tác tuyên truyền chính sách bảo hiểm y tế được thực hiện thường xuyên, nhận thức của một bộ phận người dân và cả nhân viên y tế về trách nhiệm bảo vệ quỹ BHYT còn hạn chế. Công tác quản lý đối tượng và ký hợp đồng KCB với các trạm y tế xã đã được triển khai nhưng việc kiểm soát chất lượng tại tuyến cơ sở còn nhiều lỗ hổng. Hệ thống thông tin giám định BHYT đã được kết nối, nhưng việc trích chuyển dữ liệu từ các cơ sở KCB đôi khi chưa kịp thời, đầy đủ, gây khó khăn cho quá trình hậu kiểm.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân trục lợi quỹ BHYT tại tuyến huyện

Tình trạng trục lợi quỹ BHYT là một trong những tồn tại nhức nhối nhất. Luận văn chỉ ra các hành vi phổ biến như: chỉ định thuốc không phù hợp với chẩn đoán, kéo dài ngày điều trị nội trú không cần thiết, lạm dụng các dịch vụ cận lâm sàng. Nguyên nhân của thực trạng này bao gồm: (1) Cơ chế thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh theo phí dịch vụ tạo kẽ hở cho việc lạm dụng; (2) Áp lực tự chủ tài chính khiến một số cơ sở y tế có xu hướng gia tăng chỉ định để tăng nguồn thu; (3) Năng lực và công cụ giám định của cơ quan BHXH chưa đủ mạnh để phát hiện tất cả các hành vi vi phạm; (4) Chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe. Việc giải quyết tận gốc vấn đề này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ và quyết tâm chính trị cao từ các cơ quan liên quan.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý BHYT Chính sách và đối tượng

Để khắc phục những tồn tại, luận văn đề xuất một nhóm các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý BHYT tập trung vào công tác truyền thông chính sách và quản lý đối tượng. Nền tảng của một hệ thống BHYT bền vững bắt nguồn từ nhận thức đúng đắn của tất cả các bên liên quan. Do đó, việc đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách bảo hiểm y tế được xem là giải pháp hàng đầu. Nội dung tuyên truyền cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, nhấn mạnh về quyền lợi nhưng cũng không quên đề cập đến trách nhiệm trong việc sử dụng thẻ BHYT và bảo vệ quỹ chung. Song song đó, công tác quản lý đối tượng tham gia và các cơ sở khám chữa bệnh cũng cần được siết chặt. Đối với người tham gia, cần rà soát, chuẩn hóa dữ liệu để tránh cấp trùng thẻ. Đối với cơ sở KCB, cơ quan BHXH cần thực hiện quy trình thẩm định và ký hợp đồng một cách chặt chẽ, dựa trên năng lực thực tế về nhân lực, trang thiết bị và phạm vi chuyên môn được cấp phép. Điều này đảm bảo quyền lợi người tham gia BHYT được phục vụ tốt nhất và ngăn chặn việc các cơ sở yếu kém cung cấp dịch vụ không đảm bảo chất lượng nhưng vẫn được quỹ BHYT thanh toán.

3.1. Tăng cường tuyên truyền phổ biến chính sách bảo hiểm y tế mới

Hoạt động tuyên truyền cần đa dạng hóa về hình thức và đi vào chiều sâu. Thay vì chỉ phổ biến qua các kênh truyền thống, BHXH huyện cần phối hợp với chính quyền địa phương, các đoàn thể tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp tại thôn, bản. Nội dung cần tập trung giải thích những điểm mới trong luật BHYT, các quy định về thông tuyến, mức hưởng, và đặc biệt là các hành vi bị nghiêm cấm như cho mượn thẻ, lạm dụng dịch vụ. Sử dụng ngôn ngữ địa phương và các hình ảnh trực quan sẽ giúp người dân dễ dàng tiếp thu. Vai trò của BHXH huyện là chủ động cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc, xây dựng niềm tin và ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ quỹ BHYT.

3.2. Tối ưu hóa quản lý đối tượng tham gia và cơ sở KCB BHYT

Quản lý đối tượng tham gia cần ứng dụng công nghệ thông tin để rà soát, đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu dân cư, hạn chế tối đa sai sót. Đối với các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện và xã, trước khi ký hợp đồng KCB BHYT, BHXH huyện phải tiến hành thẩm định kỹ lưỡng. Các tiêu chí thẩm định bao gồm: giấy phép hoạt động, danh sách nhân lực có chứng chỉ hành nghề, danh mục dịch vụ kỹ thuật được phê duyệt, và cơ sở vật chất. Hợp đồng cần quy định rõ ràng trách nhiệm của mỗi bên, đặc biệt là trách nhiệm cung cấp dữ liệu điện tử đầy đủ, kịp thời và chính xác phục vụ công tác giám định chi phí BHYT.

IV. Phương pháp quản lý quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế hiệu quả

Trọng tâm của công tác quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế chính là kiểm soát chi phí và đảm bảo việc sử dụng quỹ đúng mục đích, hiệu quả. Luận văn đề xuất các phương pháp quản lý mang tính nghiệp vụ cao, tập trung vào hai khâu then chốt: giám định và thanh quyết toán. Để quản lý quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế một cách bền vững, cần phải đổi mới toàn diện quy trình giám định. Thay vì giám định thủ công và hậu kiểm là chính, cần đẩy mạnh giám định điện tử theo thời gian thực thông qua Hệ thống thông tin giám định BHYT của BHXH Việt Nam. Việc này cho phép phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường như một bệnh nhân KCB nhiều nơi trong thời gian ngắn, chỉ định lặp lại xét nghiệm, hay chi phí bình quân gia tăng đột biến. Bên cạnh đó, cần xây dựng các bộ quy tắc, cảnh báo tự động trên phần mềm để hỗ trợ giám định viên. Về thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh, quy trình cần đảm bảo sự minh bạch, công khai và tuân thủ đúng các quy định tại các văn bản pháp luật như Quyết định 1399/QĐ-BHXH. Mọi chi phí từ chối thanh toán phải được thông báo rõ ràng cho cơ sở KCB kèm theo lý do cụ thể, tạo điều kiện cho việc đối thoại và giải trình, tránh gây bức xúc không đáng có.

4.1. Hoàn thiện quy trình giám định chi phí BHYT và dịch vụ y tế

Quy trình giám định chi phí BHYT cần được chuẩn hóa và thực hiện đồng bộ. BHXH huyện cần phân công giám định viên chuyên trách, thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn y dược và các quy định mới. Cần tăng cường giám định chủ động, tập trung vào các hồ sơ có chi phí cao, các bệnh mạn tính, và các dịch vụ kỹ thuật đắt tiền. Đồng thời, phải phân tích dữ liệu KCB định kỳ để xác định các xu hướng gia tăng chi phí bất thường theo từng khoa phòng, từng bác sĩ tại các cơ sở KCB. Kết quả phân tích này là cơ sở quan trọng để làm việc trực tiếp với lãnh đạo bệnh viện, yêu cầu chấn chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và sử dụng quỹ hợp lý.

4.2. Hướng dẫn thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh minh bạch

Minh bạch hóa quy trình thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh là yếu tố then chốt để xây dựng mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa cơ quan BHXH và cơ sở KCB. BHXH huyện phải tuân thủ nghiêm ngặt thời gian thẩm định và thanh toán theo quy định, tránh để nợ đọng kéo dài gây khó khăn cho hoạt động của các cơ sở y tế. Cần tổ chức các buổi làm việc định kỳ hàng quý để thống nhất số liệu quyết toán, giải quyết các vướng mắc phát sinh. Việc ứng dụng phần mềm để thông báo kết quả giám định và số liệu quyết toán giúp cả hai bên dễ dàng tra cứu, đối chiếu, giảm thiểu các thủ tục hành chính giấy tờ, tiết kiệm thời gian và công sức.

V. Bí quyết ứng dụng công nghệ và tăng cường thanh tra kiểm tra BHYT

Để thực sự tạo ra đột phá trong quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, việc kết hợp giữa ứng dụng công nghệ và tăng cường thanh tra, kiểm tra là một bí quyết quan trọng. Công nghệ thông tin, cụ thể là Hệ thống thông tin giám định BHYT, là công cụ đắc lực giúp quản lý dữ liệu lớn, phát hiện các quy luật và những điểm bất thường mà con người khó nhận biết. Luận văn nhấn mạnh vai trò của BHXH huyện trong việc khai thác tối đa các tính năng của hệ thống này, từ việc tra cứu lịch sử KCB của bệnh nhân đến phân tích, so sánh chi phí giữa các cơ sở. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ, yếu tố quyết định vẫn là con người. Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên và có trọng tâm, trọng điểm. Thay vì kiểm tra dàn trải, cần tập trung vào các cơ sở có dấu hiệu gia tăng chi phí đột biến, có nhiều phản ánh từ người dân. Việc kết hợp kinh nghiệm từ các địa phương khác, học hỏi các mô hình quản lý KCB BHYT thành công cũng là một hướng đi cần thiết. Kinh nghiệm của BHXH huyện Hòa An (Cao Bằng) hay Lập Thạch (Vĩnh Phúc) cho thấy, sự chủ động kiểm tra và phối hợp chặt chẽ với cơ sở KCB là chìa khóa để ngăn chặn lạm dụng quỹ BHYT hiệu quả.

5.1. Vai trò của BHXH huyện trong thanh tra xử lý vi phạm

BHXH huyện cần chủ động xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm và đột xuất. Nội dung kiểm tra không chỉ dừng lại ở hồ sơ bệnh án, chứng từ thanh toán mà cần đi sâu vào việc tuân thủ các quy trình chuyên môn, quy định về đấu thầu thuốc, vật tư y tế tại các cơ sở KCB. Khi phát hiện sai phạm, cần lập biên bản và kiên quyết yêu cầu xuất toán các chi phí sai quy định. Đối với các hành vi có dấu hiệu hình sự của việc trục lợi quỹ BHYT, cần chủ động phối hợp, chuyển hồ sơ cho cơ quan chức năng để điều tra, xử lý nghiêm minh theo pháp luật, tạo tính răn đe trong toàn hệ thống.

5.2. Kinh nghiệm từ các địa phương và mô hình quản lý KCB BHYT

Bài học kinh nghiệm từ BHXH các huyện bạn cho thấy tầm quan trọng của công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương và sự phối hợp liên ngành. BHXH huyện Đăk Glei cần học tập việc tăng cường phối hợp với Trung tâm y tế huyện để kiểm tra chéo, giám sát công tác KCB tại tuyến xã. Bên cạnh đó, việc xây dựng một mô hình quản lý KCB BHYT hiệu quả đòi hỏi phải nâng cao năng lực cho đội ngũ giám định viên, trang bị cho họ không chỉ kiến thức về chính sách mà cả kiến thức y khoa cơ bản để có thể đối thoại sòng phẳng về chuyên môn với các y, bác sĩ.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. - Chương 2: Thực trạng quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bảo. hiểm xã hội huyện Đăk Giei, tỉnh Kon Tum. - Chương 3: Giải pháp để hoàn thiện quản lý khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội huyện Đăk Glei, tinh Kon Tum.

11 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY KHAM CHUA BENH BAO HIEM Y TE 1. KHAM CHUA BENH BAO HIEM Y TE VA QUAN LY KHÁM CHỮA BỆNH BẢO HIÊM Y TE 1. Bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và các vấn đề liên quan a. Khái niệm Bảo hiểm y tế O nước phát triển, bảo hiểm y tế xã hội thường là một tổ chức nhà nước.

giúp đỡ người dân chỉ trả các chỉ phí được trích từ thuế hoặc mức đóng góp từ người lao động. BHYT xã hội là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, do chủ lao động và người lao động đóng góp, được nhà nước hộ trợ một phần, mức đóng góp không liên quan đến mức óm đau, nhằm trợ giúp. các thành viên tham gia khi họ gặp rủi ro, ốm đau cần khám và điều trị BHYT xã hội là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định tại Công ước. 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH.

Khái niệm bảo hiểm y tế, theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Bảo hiểm. y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám. bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế với cách tiếp cận BHYT là một 12 nội dung thuộc an sinh xã hội, là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận vì cộng đồng.

xã hội, không mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận, nhằm đảm bảo chỉ phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, 6m dau, bénh tat. Theo Khoản 1, Điều 2, Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13, ngày 13/6/2014, Luật sửa đổi, bỗ sung, một số điều của Luật BHYT do Quốc hội ban hành: “Báo hiểm y tế. là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật BHYT để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”. Khái niệm BHYT theo Luật BHYT 2014 là khái niệm được sử dụng xuyên suốt trong luận văn này.

Khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế Đó là việc đối tượng có thẻ BHYT đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có ký hợp đồng KCB BHYT sẽ được cơ quan Bảo hiểm xã hội thanh toán một phân chỉ phí hoặc toàn bộ chỉ phí khám chữa bệnh cũng như chỉ phí thuốc, chỉ phí sử dụng dịch vụ kỹ thuật tùy theo mức hưởng được ghi trên thẻ BHYT. Điều 24 Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 quy định: “Cơ sở khám. bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh có ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế”. Khoản 1, Điều 25 Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 quy định: “Hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là văn bản thỏa thuận giữa tô chức bảo hiểm y tế với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế”.

Toàn bộ chỉ phí để thanh toán cho dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT được lấy từ Quỹ Bảo hiểm y tế 13 ¢. Quy Bao hiém y tế Theo khoản 3, Điều 2 Luật bảo hiểm y tế 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 do Quốc hội ban hành: “Quÿ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguôn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chỉ trả chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chỉ phí quản lý bộ máy của tổ chức báo hiểm y tế và những khoản chỉ phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế”. - Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế Theo quy định, đối tượng tham gia BHYT gồm 05 nhóm theo trách nhiệm đóng. Đó là: Nhóm thứ nhất do người lao động và người SDLĐ đóng, bao gồm: “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trắn theo quy định của pháp luật”.

Nhóm thứ hai do tô chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm: “Người hưởng lương hưu, trợ cấp mắt sức lao động hằng tháng; Người đang hưởng, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp”. Nhóm thứ ba ngân sách nhà nước đóng, bao gồm: “Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ; Sĩ quan, hạ sĩ quan 14 nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hing tháng từ ngân sách nhà nước; Người đã thôi hưởng trợ cấp mắt sức lao động. đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước; Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm; Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ, Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật; Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bồng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam”. Nhóm thứ tư được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm: Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Học sinh, sinh viên.

Nhóm thứ năm: Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm. những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại 4 nhóm trên. ~ Phạm vỉ được lưỡng quyền lợi bảo hiểm y tế Người tham gia BHYT đi khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT chỉ trả các chỉ phí như sau: + Chỉ phí khám bệnh theo mức giá được cấp có thảm quyền phê duyệt. 15 Chi phí ngày giường điều trị nội trú từ cơ sở y tế tuyến huyện trở lên; Ngày giường lưu bệnh nhân tại trạm y tế tuyến xã.

+ Chỉ phí các dịch vụ kỹ thuật trong phạm vi chuyên môn theo danh mục và mức giá đã được cấp có thầm quyền phê duyệt đúng quy định. + Chỉ phí thuốc, hóa chất, vật tư y tế được sử dụng trực tiếp cho người bệnh theo danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán theo quy định. Các chỉ phí è thuốc, hóa chất, vật tư trên được cơ sở KCB cung ứng theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, mua sắm thuốc, hóa chất tư y tế nhưng chưa được kết cầu vào giá của các dịch vụ kỹ thuật. + Chi phí máu, các chế phẩm của máu theo quy định (Thông tư số 33/2014 /TT-BYT ngày 27/10/2014 của Bộ Y tế, quy định giá tối đa và chỉ phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phân, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn).

+ Chi phí vận chuyển người bệnh: vận chuyển từ tuyến huyện lên tuyến. tỉnh trong trường hợp cấp cứu hoặc đang điều trị nội trú vượt khả năng điều trị, phải chuyền tuyến khám bệnh, chữa bệnh. ~ Mức hưởng bảo hiểm y tế Người tham gia BHYT khi đi khám bệnh, chữa bệnh đúng tuyến thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau: + Mức hưởng 100% chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh và chỉ phí ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế: “sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong, công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách 16 đối với học viên ở các trường quân đội, công an;”. + Mức hưởng 100% chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh: “Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hing tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế — xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ