Luận văn thạc sĩ: Quản lý đầu tư hạ tầng y tế bằng vốn ngân sách tại Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý đầu tư hạ tầng y tế tại Quảng Nam bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
130
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý đầu tư hạ tầng y tế vốn NSNN tại Quảng Nam

Hoạt động quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đóng vai trò xương sống trong việc đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Đây là một bộ phận quan trọng của quản lý đầu tư công, đòi hỏi sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với toàn bộ quy trình, từ hoạch định đến vận hành. Mục tiêu cao nhất là sử dụng hiệu quả nguồn lực công, ngăn ngừa thất thoát, lãng phí, đồng thời đảm bảo các dự án đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất. Việc đầu tư vào hạ tầng y tế công không chỉ gia tăng tài sản cố định cho nền kinh tế mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển cân đối giữa các vùng, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa của tỉnh. Theo nghiên cứu của Phan Vĩnh Dần (2022), hoạt động này chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu, tạo ra một khung pháp lý phức tạp nhưng cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

1.1. Vai trò của đầu tư công cho y tế trong an sinh xã hội

Đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) là nguồn lực quan trọng và chủ yếu để phát triển cơ sở vật chất y tế, đặc biệt tại các địa phương có điều kiện kinh tế còn khó khăn như Quảng Nam. Các dự án hạ tầng y tế công đảm bảo mọi người dân, kể cả các đối tượng chính sách, yếu thế, đều có thể tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản. Hoạt động đầu tư công cho y tế không chỉ mang ý nghĩa phúc lợi mà còn là công cụ định hướng, thu hút các nguồn vốn xã hội hóa khác. Khi nhà nước đi đầu trong việc xây dựng các bệnh viện, trung tâm y tế, sẽ tạo ra một cú hích, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào các lĩnh vực phụ trợ. Hơn nữa, việc tăng cường đầu tư vào hạ tầng y tế công trực tiếp làm gia tăng tài sản và năng lực cho nền kinh tế, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đảm bảo sự ổn định xã hội.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý vốn ngân sách nhà nước cho CSHTYT

Quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế bằng vốn NSNN là một hoạt động quản lý công phức tạp, bao gồm năm nội dung chính: (1) Quản lý quy hoạch, (2) Quản lý chuẩn bị đầu tư, (3) Lập và phân bổ kế hoạch vốn, (4) Quản lý chất lượng đầu tư, và (5) Thanh tra, giám sát và đánh giá. Mỗi giai đoạn đều có những quy định pháp lý và tiêu chí đánh giá riêng. Theo đó, quản lý vốn ngân sách nhà nước đòi hỏi sự phối hợp liên tục, có tổ chức giữa các cơ quan như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Y tế, Sở Xây dựng, và Kho bạc Nhà nước. Mục tiêu là đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch, chống thất thoát và tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn NSNN. Việc quản lý tốt còn giúp tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu, lựa chọn được nhà thầu đủ năng lực, góp phần đảm bảo chất lượng và tiến độ công trình.

II. Thách thức quản lý đầu tư y tế công tại Quảng Nam hiện nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, công tác quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Quảng Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức. Luận văn của Phan Vĩnh Dần (2022) đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế cố hữu trong suốt giai đoạn 2016-2020. Các vấn đề này trải dài trên mọi khâu của quy trình quản lý, từ công tác quy hoạch còn bất cập, thủ tục chuẩn bị đầu tư rườm rà, cho đến việc giải ngân vốn đầu tư công chậm và quản lý chất lượng còn lỏng lẻo. Những hạn chế này không chỉ gây lãng phí nguồn lực nhà nước mà còn làm chậm tiến độ nâng cao năng lực y tế cơ sở, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân. Việc phân tích sâu vào thực trạng đầu tư y tế tại Quảng Nam là bước đi cần thiết để xác định nguyên nhân gốc rễ và đề xuất các giải pháp cải thiện mang tính hệ thống, giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong tương lai.

2.1. Phân tích thực trạng đầu tư y tế tại Quảng Nam

Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Quảng Nam đã có 51 dự án đầu tư CSHTYT sử dụng vốn NSNN với tổng vốn hơn 1.166 tỷ đồng. Tuy nhiên, thực trạng đầu tư y tế tại Quảng Nam bộc lộ nhiều vấn đề. Công tác quy hoạch dù được tích hợp vào quy hoạch chung của tỉnh (92% ý kiến khảo sát đồng ý) nhưng lại thiếu tính cập nhật, chưa kịp thời điều chỉnh theo thực tiễn (76% ý kiến đồng ý). Nhiều dự án xác định quy mô chưa phù hợp, dẫn đến phải điều chỉnh tổng mức đầu tư. Công tác chuẩn bị đầu tư còn rườm rà, chồng chéo, kéo dài thời gian phê duyệt. Bên cạnh đó, việc bố trí vốn còn dàn trải, chưa tập trung cho các công trình trọng điểm, dẫn đến nhiều dự án kéo dài, gây nợ đọng xây dựng cơ bản. Những vấn đề này cho thấy sự thiếu đồng bộ trong quản lý dự án đầu tư công.

2.2. Hạn chế trong giải ngân vốn và hiệu quả sử dụng vốn NSNN

Một trong những thách thức lớn nhất là tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công hàng năm còn thấp và tình trạng nợ đọng chưa được xử lý dứt điểm. Kết quả khảo sát cho thấy có đến 88% ý kiến cho rằng kế hoạch vốn bố trí còn dàn trải, hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc lập kế hoạch vốn chưa sát thực tế, vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, và năng lực hạn chế của một số chủ đầu tư. Hiệu quả sử dụng vốn NSNN bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi các công trình chậm tiến độ, đội vốn, hoặc hoàn thành nhưng không phát huy hết công năng. Công tác giám sát, đánh giá đầu tư tuy có thực hiện nhưng đôi khi còn mang tính hình thức, chưa kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm, làm giảm hiệu quả tổng thể của các chính sách đầu tư y tế.

III. Cách hoàn thiện quy hoạch và chuẩn bị dự án đầu tư hạ tầng y tế

Để khắc phục những hạn chế trong quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế, việc cải thiện hai khâu đầu tiên là quy hoạch và chuẩn bị đầu tư mang ý nghĩa then chốt. Một quy hoạch có tầm nhìn xa, phù hợp với thực tiễn sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động đầu tư, tránh được tình trạng dàn trải, lãng phí. Song song đó, việc tối ưu hóa quy trình thẩm định, phê duyệt dự án sẽ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và đảm bảo các dự án được triển khai có tính khả thi cao. Các giải pháp trong giai đoạn này tập trung vào việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, tăng cường tính minh bạch và phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan. Đây là nền tảng để đảm bảo các dự án phát triển cơ sở vật chất y tế thực sự đáp ứng nhu cầu của người dân và phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh.

3.1. Nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển cơ sở vật chất y tế

Giải pháp cốt lõi là công tác quy hoạch phải được cập nhật, bổ sung liên tục để phù hợp với tình hình thực tiễn. Quy hoạch cần có tầm nhìn dài hạn, gắn kết chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Cần tăng cường đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, dự báo nhu cầu y tế để xây dựng danh mục dự án ưu tiên một cách khách quan. Đặc biệt, quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch phải đảm bảo tính minh bạch bằng cách công bố rộng rãi và lấy ý kiến tham vấn của cộng đồng, doanh nghiệp. Việc xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy hoạch, gây ra tình trạng quy hoạch “treo” sẽ góp phần siết chặt kỷ cương, đảm bảo quy hoạch thực sự là công cụ quản lý hiệu quả cho việc phát triển cơ sở vật chất y tế.

3.2. Tối ưu hóa quy trình thẩm định phê duyệt dự án đầu tư công

Cần chuẩn hóa quy trình, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết để rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt dự án. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của đơn vị tư vấn lập dự án là yếu tố quan trọng, cần có chế tài xử lý các đơn vị tư vấn yếu kém. Đồng thời, cần tăng cường phân cấp thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư cho các dự án nhóm C, giúp đẩy nhanh tiến độ. Một nguyên tắc quan trọng là chỉ phê duyệt dự án khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, chấm dứt tình trạng phê duyệt dự án nhưng không bố trí được vốn. Việc cải cách này sẽ giúp các dự án đầu tư công trong lĩnh vực y tế được triển khai nhanh chóng, hiệu quả và đúng pháp luật.

IV. Phương pháp cải thiện phân bổ vốn và quản lý chất lượng dự án

Sau khi quy hoạch và chuẩn bị đầu tư được hoàn thiện, hai yếu tố quyết định đến sự thành công của dự án là phân bổ ngân sách cho y tế Quảng Nam và quản lý chất lượng thi công. Việc phân bổ vốn một cách tập trung, hợp lý sẽ giải quyết được tình trạng đầu tư dàn trải, nợ đọng kéo dài, giúp các công trình trọng điểm sớm được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đồng thời, việc siết chặt quản lý chất lượng trong toàn bộ quá trình, từ khâu thiết kế, lựa chọn nhà thầu đến giám sát thi công, là yếu tố sống còn để đảm bảo công trình bền vững, an toàn và phát huy tối đa hiệu quả. Các giải pháp này đòi hỏi sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, chủ đầu tư và nhà thầu, nhằm nâng cao toàn diện hiệu quả sử dụng vốn NSNN.

4.1. Nguyên tắc phân bổ ngân sách cho y tế Quảng Nam hiệu quả

Việc phân bổ ngân sách cho y tế Quảng Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Luật Đầu tư công, đặc biệt là nguyên tắc bố trí vốn tập trung. Cần ưu tiên vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, sau đó bố trí đủ vốn cho các dự án chuyển tiếp, dự án sắp hoàn thành. Vốn còn lại mới được phân bổ cho các dự án khởi công mới. Cần chấm dứt việc bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư. Để tăng nguồn lực, tỉnh cần chủ động tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ trung ương, vốn ODA và đẩy mạnh các hình thức hợp tác công - tư (PPP) để thu hút vốn xã hội hóa, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước. Việc điều chuyển vốn giữa các dự án giải ngân chậm sang các dự án có tiến độ tốt cần được thực hiện kịp thời để tối ưu hóa dòng tiền.

4.2. Tăng cường giám sát chất lượng thi công hạ tầng y tế công

Quản lý chất lượng phải được thực hiện nghiêm túc ở mọi khâu. Chủ đầu tư phải lựa chọn nhà thầu thi công, giám sát có đủ năng lực và kinh nghiệm. Vai trò của tư vấn giám sát phải được đề cao, đảm bảo họ có mặt thường xuyên tại công trường, kiểm tra chặt chẽ vật liệu đầu vào và quy trình thi công. Cần kiên quyết xử lý các hành vi buông lỏng giám sát, nghiệm thu khống khối lượng. Sở Xây dựng cần phối hợp với Sở Y tế thường xuyên tổ chức kiểm tra, thanh tra đột xuất các công trình hạ tầng y tế công trọng điểm. Việc đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong quá trình thi công cũng là một phần không thể thiếu của quản lý chất lượng, góp phần xây dựng các công trình y tế hiện đại và bền vững.

V. Hướng dẫn tăng cường thanh tra giám sát quản lý dự án y tế

Công tác thanh tra, giám sát và đánh giá đầu tư là công cụ hữu hiệu để đảm bảo các dự án đầu tư công cho y tế được thực hiện đúng pháp luật, đúng mục tiêu và đạt hiệu quả. Hoạt động này không chỉ giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí mà còn cung cấp thông tin phản hồi quan trọng để hoàn thiện chính sách. Việc tăng cường và đổi mới công tác này, đặc biệt là phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và ứng dụng công nghệ, sẽ tạo ra một cơ chế kiểm soát chặt chẽ, minh bạch. Qua đó, nâng cao trách nhiệm giải trình của các chủ đầu tư và cơ quan quản lý, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

5.1. Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng và cơ quan chức năng

Để hoạt động giám sát thực chất, cần phát huy tối đa vai trò của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Cần công khai, minh bạch thông tin về dự án (quy hoạch, quy mô, tổng mức đầu tư, tiến độ) để người dân có cơ sở theo dõi. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như Thanh tra tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất, tập trung vào các dự án lớn, phức tạp hoặc có dư luận xã hội quan tâm. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để tránh chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra, đồng thời đảm bảo mọi sai phạm đều được xử lý nghiêm minh, triệt để, góp phần siết chặt kỷ luật trong quản lý dự án đầu tư công.

5.2. Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý dự án đầu tư công

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin là một giải pháp đột phá. Cần xây dựng và triển khai các phần mềm hệ thống thông tin nghiệp vụ để quản lý toàn bộ vòng đời dự án, từ khâu đề xuất, phê duyệt, đấu thầu, giải ngân đến quyết toán. Hệ thống này giúp số hóa hồ sơ, tự động hóa báo cáo, cung cấp dữ liệu theo thời gian thực cho các cấp quản lý. Việc áp dụng đấu thầu qua mạng cần được triển khai 100% để tăng tính cạnh tranh, minh bạch và tiết kiệm chi phí. Công nghệ thông tin không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu sai sót do con người mà còn là công cụ đắc lực hỗ trợ công tác giám sát, đánh giá đầu tư từ xa, giúp hoạt động quản lý vốn ngân sách nhà nước trở nên hiệu quả và minh bạch hơn.

VI. Đánh giá hiệu quả và tương lai của đầu tư y tế công Quảng Nam

Nhìn lại giai đoạn vừa qua, hoạt động quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Quảng Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực y tế cơ sở. Hệ thống quy hoạch và quản lý đã từng bước được hoàn thiện, nhiều công trình y tế được xây dựng và đưa vào sử dụng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Tuy nhiên, những hạn chế còn tồn tại là bài học kinh nghiệm quý báu. Hướng tới tương lai, với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2025, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và đẩy mạnh xã hội hóa sẽ là chìa khóa để xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.

6.1. Tổng kết thành công và bài học trong quản lý vốn NSNN

Thành công lớn nhất là việc tỉnh đã từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng y tế công theo hướng đồng bộ, đặc biệt quan tâm đến khu vực miền núi. Công tác phân cấp quản lý ngày càng rõ ràng, đề cao vai trò của các cấp cơ sở. Công tác đấu thầu ngày càng minh bạch hơn, đặc biệt khi đẩy mạnh đấu thầu qua mạng. Tuy nhiên, bài học rút ra là cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa các khâu trong quy trình quản lý. Quy hoạch phải đi trước một bước và có tầm nhìn. Phân bổ ngân sách phải tập trung, tránh dàn trải. Giám sát chất lượng và tiến độ phải được thực hiện quyết liệt và thường xuyên. Việc nhận diện rõ cả thành công và hạn chế là cơ sở để hoàn thiện cơ chế tài chính cho bệnh viện công và các chính sách liên quan.

6.2. Định hướng phát triển hạ tầng y tế đến năm 2025 và xa hơn

Mục tiêu của Quảng Nam đến năm 2025 là phát triển toàn diện sự nghiệp y tế, đảm bảo người dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ chất lượng cao. Định hướng đầu tư sẽ tập trung vào y tế cơ sở, y tế dự phòng, đồng thời phát triển các kỹ thuật y tế chuyên sâu tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Nhà nước sẽ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư, nhưng sẽ đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Bên cạnh việc xây dựng cơ sở vật chất y tế, tỉnh cũng chú trọng đầu tư đồng bộ trang thiết bị hiện đại và có chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế chất lượng cao. Đây là hướng đi toàn diện nhằm xây dựng một nền kinh tế y tế phát triển, phục vụ tốt nhất cho người dân.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Co sở lý luận về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN. Chương 2: Thực trạng quản lý đầu tư CSHTYT bằng vốn NSNN trên địa bản tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư CSHTYT bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY DAU TU CƠ SO HA TANG BẰNG VÓN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.

NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TANG BANG VON NSNN 1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đầu tư CSHTYT bằng nguồn vốn NSNN a. Khái niệm đầu tư CSHTYT từ nguồn vốn NSNN Đầu tư trong kinh tế học có phạm vi giới hạn với nghĩa đầu tư thông thường. Đầu tư là quá trình sử dụng vốn tài chính thực hiện các dự án hình thành cơ sở sản xuất, nhà cửa, cơ sở hạ tầng .tạo ra cơ sở vật chất của nền kinh tế [22].

Từ đó có thể hiểu khái niệm đầu tư từ nguồn vốn NSNN. Đầu tư CSHTYT bằng nguôn vốn NSNN là quá trình sử dụng vốn NSNN để thực hiện các dự án xây dựng các công trình hạ tẳng y tế trong nền kinh tế. Vai trò đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn NSNN (1) Đây là nguôn đâu tư quan trọng và chủ yếu cho cơ sở cơ sở hạ tằng trong nên kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm và thực hiện của yếu bằng nguồn từ nhà nước. Trái qua nhiều thời kỳ dù có đây mạnh quá trình xã hội hóa bằng nhiều hình thức khác nhau như mô hình công tư hay tư nhân trực tiếp đầu tư thì tỷ trọng lớn vẫn thuộc về vốn của nhà nước.

Một phần hạ tầng y tế là công, trình nhằm đảm bảo an sinh xã hội, phục vụ các đối tượng chính sách, yếu thế trong xã hội. Bên cạnh đó, các thành phần kinh tế khác không dễ có được khả năng tài chính để thực hiện các dự án đầu tư này và trong nhiều trường hợp họ 10 có khả năng nhưng cũng không muốn thực hiện do nhiều vấn đề như tỷ suất lợi nhuận không cao, rủi ro không nhỏ. Nguồn đầu tư từ ngân sách thường có vai trò rất lớn và chủ yếu trong. phát triển cơ sở hạ tầng nhất là khi đầu tư vào những nơi những lĩnh vực kém hấp dẫn như vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa hay lĩnh vực an sinh xã hội; (2) Định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế Do nhu cầu dau tu cho cho co sé ha tang rat lớn và giới hạn ngân sách.

của chính phủ nên giải pháp xã hội hóa luôn được quan tâm. Nhưng để thu hút và kêu gọi các nhà đầu tư khác thì nguồn đầu tư từ ngân sách thường coi như khoản đầu tư môi và kích thích các nhà đầu tư khác. (3) Đầu tư cơ sở hạ tằng bằng NSNN góp phân tăng tích lăy Chỉ đầu tư từ ngân sách trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng, tài sản có định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Van đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dung co sở hạ tầng KTXH như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục.Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: Phát triển cân đối giữa các ngành, các lãnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đây sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội.

Đặc điểm đầu tư hạ tầng bằng nguồn vốn NSNN ~_ Là khoản chỉ tích lặy hay đâu tư phát triển cho nên kinh tế Kết quả đầu tư cơ sở hạ tầng là hạ tầng kinh tế kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Nếu xem xét dưới góc độ nhân tố sản xuất thì đây chính là bộ phận vốn sản xuất của nền kinh tế, chúng quyết định sự gia tăng mức sản lượng của nền kinh tế nên khoản chỉ này sẽ làm tăng tích lũy vốn sản xuất. Trong kinh tế học phát triển khoản đầu tư này gọi là đầu tư phát triển. 11 - Quy mô và cơ cấu chỉ đầu tư cho cơ sở hạ tầng của NSNN không có định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển KTXH của nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế ti nhân [2].

Kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, quy m6 chi đầu tư công của NSNN chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội. Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ NSNN để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hoá. Đi đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chỉ đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu KTXH.Quy mô chỉ đầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hoá và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Khi đó chỉ đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ồn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chỉ cho vay chỉ định, chỉ thực hiện chương trình mục tiêu KTXH sẽ được cắt giảm.

- Chỉ đầu ta CSHTYT bằng NSNN phải gắn chặt chỉ thường xuyên nhằm nâng cao hiệu qua von dau te. Sự phối hợp không đồng bộ giữa chỉ đầu tư với chỉ thường xuyên của ngân sách sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư. Sự gắn kết giữa 2 nhóm chỉ tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác [4] Nội dung chỉ đầu tư công gồm 4 lĩnh vực: Chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KTXH không có khả năng thu hồi vốn; chỉ hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chỉ cho quỹ hỗ trợ phát triển đẻ thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; chỉ dự trữ nhà nước.

Trong đó, chỉ 12 đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chỉ chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công, trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng. Thực chất loại chỉ này nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho các ngành sản xuất vật chất và không sản xuất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển KTXH Sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển KTXH nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích đầu tư, giảm chỉ phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý đầu tư CSHTYT bằng nguồn vốn NSNN a. Khái niệm quản lý đầu tư CSHTYT bằng nguồn vốn NSNN Quản lý chính là việc tác động định hướng lên một hệ thống nào đó nhằm đảo bảo hệ thống đó phát triển một cách trật tự và phù hợp với những qug luật được hướng tới [SJ.

Trên cơ sở này có thể hiểu QUNN là một hình thức của quản lý xã hội tuy nhiên có chứa đựng tính quyền lực của nhà nước. và sử dụng chính quyền lực đó đẻ điều chỉnh quan hệ nhằm đảm bảo mục tiêu duy trì và phát triển một cách trật tự. Từ đó đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở y tế bằng nguồn bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước là một bộ phận của đầu tư công nên cũng cần hiểu khái niệm về quản lý đầu tư công /12.

13 Khái niệm đầu tư công được quy định tại khoan 15 Diéu 4 Luật đầu tư công năm 2019: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định” [17]. Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lăng phí NSNN; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triền KTXH với chỉ phí thấp nhất. Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả [9] Từ đó có thể rút ra khái niệm quản lý đầu tư CSHTYT bằng nguồn vốn 'NSNN như sau: Quản lý đầu tư xây dựng CSHTYT là các hoạt động chấp hành, điều hành công tác đâu tr xây dung CSHTYT có tính tổ chức; được thực hiện, thi hành trên cơ sở các quy định của pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan quản lÿ hành chính nhà nước. Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và CSHTYT từ ngân sách bao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ