CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN VE CÔNG TÁC QUY HOẠCH PHÁT TRIÊN CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về quy hoạch phát triển cán bộ công chức Quy hoạch cán bộ được các nhà khoa học khăng định là khâu quan trọng tạo cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thực hiện tốt việc sắp xếp, bố trí, luân chuyên cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của sự nghiệp cách mạng. Bởi vậy, từ lâu, công tác quy hoạch cán bộ đã được các cấp ủy đảng, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý quan tâm, nhất là sau khi có Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về “Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Đến nay đã có một số công trình tiêu biểu sau: Luận án tiễn sĩ “Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ tinh ủy quản lý ở các tỉnh miễn núi phía Bắc 7 ”(2012). Tác giả đã đưa ra quan 2.) niệm quy hoạch cán bộ: là việc lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ, dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ. Luận văn thạc sỹ “Quy hoạch đội ngũ can bộ chu chốt thuộc diện Quận uy Ba Đình thành phố Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay” (2006) của Lưu Tiến Định. Luận văn đã làm rõ đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Quận ủy Ba Đình quản lý; đánh giá, làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và QHCB chủ chốt của Quận ủy Ba Đình từ 1996 đến 2005, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng.
Để nâng cao chất lượng quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt đó, tác giả đã đưa ra 6 nhóm giải pháp: mét là, nâng cao nhận thức, tiêu chuẩn hóa chức danh cán bộ chủ chốt; hai là, phân tích, đánh giá đội ngũ cán bộ của quận và xác định nguồn cán bộ quy hoạch; ba là, phát huy vai trò các tổ chức chính trị và quần chúng trong công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt; bốn Id, đào tạo, bôi dưỡng, bé tri, sử dụng, luân chuyên và quản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt; nam là, định kỳ kiểm tra, đánh giá, bố sung, hoàn chỉnh quy hoạch; sáu là, nâng cao vai trò của Quận ủy vả cơ quan tham mưu trong công tác QHCB, trách nhiệm của Thành ủy Hà Nội trong công tác này. Luan văn thạc sĩ “Quy hoạch đội ngũ can bộ lãnh đạo chu chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc nước ta giai đoạn hiện nay ”.(2006), của Nguyễn Ngọc Lâm. Luan van dam chỉ ra vi trí, vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý và đặc điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt này. Luận văn cũng đã đánh giá được thực trạng quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc nước ta, trong đó nhấn mạnh những bất cập trong công tác QHCB lãnh đạo, quản lý chủ chốt điện Trung ương quản lý.
Luận văn đã đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc. "Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý" (2009) của Đỗ Minh Cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung của cuốn sách đã đề cập đến những van đề: Sự cần thiết của công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong công tác cán bộ nói chung: các yêu cầu và quan điểm đối với công tác quy hoạch. Quy hoạch cán bộ có vai trò quan trọng trong công tác cán bộ, xây dựng Đảng vững mạnh; quy hoạch cán bộ là để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng các yêu câu của công tác tô chức cán bộ nói chung.
Cuôn sách là tài liệu bổ ích cho luận văn này nghiên cứu, bởi việc thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ cần phải gắn với công tác quy hoạch cán bộ. Kết quả nghiên cứu và khoảng trong nghiên cứu Xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng là vấn đề đã được nhiều tác giả ở trong cũng như ngoài nước nghiên cứu. Đến nay, đã có nhiều công trình đề tài, luận văn, luận án, bài viết về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt hoặc cán bộ diện BTV tỉnh, huyện ủy quản ly được công bé với các phạm vi và mục đích khác nhau. Các công trình khoa học đã nêu trên tiếp cận công tác xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo từ nhiều cách và góc độ khác nhau.
Các tác giả với tư cách là những chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích khái quát đều cố gang giải quyết những vấn dé của việc xây dựng đội ngũ cán bộ với những mức độ khác nhau, cụ thể như sau: Một là, các tác giả đã tập trung phân tích khái niệm, vai trò và đặc điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan của hệ thống chính trị nước ta với nét đặc thù riêng. Điều này đã giúp cho chúng ta hiểu biết rõ hơn về vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ trong quy hoạch trong các cơ quan của hệ thống chính trị ở nước ta. Hai là, các tác giả đã đưa ra những định nghĩa về công tác cán bộ, trong đó có quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính tri. Nhận thức được vai trò của công tác QHCB, xác định được nguyên tắc, phương pháp và quy trình quy hoạch sẽ giúp cho các đơn vị trong hệ thống chính trị nước ta xây dựng, triển khai kế hoạch về QHCB được đúng người có đủ tiêu chuẩn đáp ứng được yêu cầu công việc.
Ba là, trên cơ sở đánh giá thực trạng đội ngũ CBCC và công tác QHCB lãnh đạo thời gian qua, các tác giả đã rút ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, từ đó đưa ra được quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy QHCB lãnh đạo trong giai đoạn tiếp theo. Các công trình nghiên cứu nói trên nhìn chung đã đề cập đến công tác QHCB trong hệ thống chính trị ở nước ta từ cấp Trung ương đến cấp địa phương, đã góp phần làm rõ hơn về công tác QHCB và kinh nghiệm giữa công tác cán bộ và công tác QHCB. Những kết quả đó có ý nghĩa to lớn đối với việc đổi mới và hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh dao. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về công tác quy hoạch cán bộ diện BTV Tỉnh ủy quản lý ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2015 - 2020.
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn dé tài “Quy hoạch phát triển cán bộ công chức tỉnh Sơn La” cần phải tiếp tục giải quyết, nhằm góp phan làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của van đề này. Luận văn sẽ kế thừa, tiếp thu một cách có chọn lọc các công trình, đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả có liên quan về công tác QHCB, đồng thời luận văn sẽ tập trung nghiên cứu sâu những vấn đề lý luận, thực tiễn của công tác QHCB thuộc diện BTV tỉnh ủy quản lý ở tỉnh Sơn La giai đoạn hiện 2015-2020. Cơ sở lý luận về cán bộ, công chức và công tác quy hoạch phát triển cán bộ công chức 1.1 Khái niệm về cán bộ, công chức Tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội va cơ cau bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia mà phạm vi CBCC được xác định khác nhau. Tuy không có một quan niệm chung về cán bộ, công chức cho tất cả các quốc gia, nhưng các yêu tô chung cơ bản của quan niệm CBCC đều được các quốc gia đề cập tới, đó là: - Những người được tuyên dung và bồ nhiệm làm một công việc trong cơ quan Nhà nước; - Được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Ở nước ta, khái niệm “cán bộ, công chức” cũng đã được sử dụng từ lâu. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (2005) “cán bộ, công chức” được hiểu là “người làm việc trong cơ quan nhà nước, được ngân sách nhà nước trả lương”. Dần dần, khái niệm “cán bộ, công chức” được bổ sung, hoàn thiện dần cho phù hợp với xu thé phát triển của đất nước. Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dai trong đời sống chính trị - pháp lý ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức” không có sự phân biệt rạch ròi từng khái niệm cũng như quy chế pháp lý đối với từng nhóm.
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi bố sung năm 2003) có đề cập tới ba đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức, nhưng không thể hiện rõ ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức mà quy định chung các đối tượng “cán bộ, công chức” là công dân Việt Nam, trong biên chế. Đây là một hạn chế của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Đến năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội đã yêu cầu Chính phủ xây dựng và trình Quốc hội thông qua “Luật Cán bộ, công chức”. Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức đã được ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010).
Luật quy định cán bộ, công chức là những đối tượng sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bau cử, phê chuẩn, bồ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan cua Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây goi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước ` (Luật cán bộ công chức 2008).