CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề về quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ trường trung học phổ thông 1. Các nghiên cứu nước ngoài Ăngghen từng nói “mỗi hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng yếu tố của kiểm tra”.
Thanh tra, kiểm tra luôn gắn liền với quá trình lao động xã hội, từ bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tính tất yếu phải có sự quản lý để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động của cơ chế sản xuất với sự vận động của các yếu tố khách quan, độc lập hợp thành cơ chế sản xuất đó. Thanh tra, kiểm tra gắn liền với quản lý nhà nước, các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới đã xác định thanh tra, kiểm tra là một trong bốn chức năng quản lý. Để khẳng định tầm quan trọng của công tác thanh tra, Lênin từng nói trước Đại hội XI - Đảng cộng sản Nga là “phải cải tổ Bộ Dân ủy thanh tra công nông. để tăng cường sự kiểm tra từ phía quần chúng nhằm tiêu diệt cái thứ cỏ dại - chủ nghĩa quan liêu”; theo Ăngghen “kiểm tra được xem như là phương thức hành động để thực hiện mục đích”.
Khi đề cập đến mục đích, nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra, Báo cáo chính trị Đại hội XI - Đảng cộng sản Nga, đã viết “chúng ta phải tổ chức kiểm tra nghiêm ngặt công tác của chúng ta. kiểm tra thật sự, đứng trên quan điểm của nền kinh tế quốc dân mà kiểm tra”;. và khi đề cập đến nội dung thanh tra, kiểm tra Lênin nói “phải kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta đã tuyên bố từng giờ, quyết định từng phút, từng giây .” Ngoài ra, một số nghiên cứu nước ngoài liên quan như: Theo tác giả RaJia RoySinh “Nền giáo dục thế kỷ XXI những triển vọng của Châu Á - Thái Bình 9 Dương”, tác giả V.A Xukhomlinxki: Muốn nâng cao hiệu quả quản lý thì phải dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy. Do đó, một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý là phải thường xuyên kiểm tra hoạt động sự phạm của giáo viên thông qua dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy.
Theo thuyết Xibecnêtic: công tác thanh tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý; nó giúp chủ thể quản lý một cách tối ưu hệ quản lý. Do vậy, thanh tra giáo dục sẽ giúp chủ thể quản lý giáo dục các cấp có được thông tin để điều chỉnh các khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá. Mặt khác, nhờ kết quả thanh tra đối tượng quản lý tự điều chỉnh ý thức hành vi và hoạt động của mình để tuân thủ quy định của ngành, địa phương và pháp luật nhà nước. Các nghiên cứu trong nước Ngày 29/10/1988, Bộ Giáo dục (nay là Bộ GD&ĐT) ban hành Quyết định số 1019/QĐ-BGD quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục; ngày 28/9/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 358/NĐ-HĐBT về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục; ngày 11/3/1993, Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục kèm theo Quyết định số 478/QĐ-BGDĐT ngày 11/3/1993; đến tháng 12/1998, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của thanh tra giáo dục đã được luật hóa từ Điều 98 đến Điều 103 của Luật Giáo dục và ngày 10/12/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục và tiếp tục được quy định cụ thể hơn tại Luật Giáo dục năm 2005 sau khi Quốc hội ban hành Luật thanh tra 2004, đồng thời ngày 18/8/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 85/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục (thay thế Nghị định 101/2002/NĐ-CP), hiện nay tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục được quy định tại Luật Thanh tra 2010 và Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục.
Bên cạnh đó Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 54/2012/TT- BGDĐT ngày 21/12/2012 quy định về cộng tác viên thanh tra giáo dục, Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 hướng dẫn về Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục, Thông tư số 31/2014/TT-BGDĐT ngày 16/9/2014 về sửa đổi, bổ 10 sung một số điều của Thông tư số 54/2012/TT-BGDĐT ngày 21/12/2012 quy định về cộng tác viên thanh tra giáo dục, Thông tư 24/2016/TT-BGDĐTngày 14/11/2016 về Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục, Chỉ thị số 5972/CT-BGDĐT ngày 20/12/2016 về việc tăng cường công tác thanh tra giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Các văn bản pháp luật và những quy định về thanh tra trong lĩnh vực giáo dục được Quốc hội, Chính phủ, Bộ GD&ĐT hướng dẫn cụ thể, hệ thống và hoàn thiện như trên đã nói lên được tầm quan trọng của thanh tra giáo dục đối với sự nghiệp đổi mới quản lý giáo dục của nhà nước. Ngoài ra, trong “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục” tác giả Đặng Quốc Bảo (1997) xác định: Kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều khiển mục tiêu. Vì vậy, ta có thể khảng định thanh tra, kiểm tra có tác dụng rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động QLNN nói chung, hoạt động QLGD nói riêng.
Quản lý đồng thời là kiểm tra. TTr, kiểm tra nằm trong bản thân sự hoạt động quản lý. Gần đây, một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục đã nghiên cứu về các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thanh tra góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra giáo dục như: Tác giả Trương Văn Mâu (2006) với đề tài “Các biện pháp quản lý công tác thanh tra chuyên môn trung học phổ thông của Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Bình”, tác giả Nguyễn Quang Hưng (2015) với đề tài “Quản lý công tác thanh tra chuyên môn các trường THPT tại tỉnh Bình Phước” đã có những đánh giá về thực trạng quản lý của Sở GD&ĐT với công tác thanh tra chuyên môn các trường THPT, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh tra chuyên môn các trường THPT. Tác giả Nguyễn Thị Điệp (2009) với đề tài “Biện pháp xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Lê Văn Vương (2005) với đề tài “Biện pháp xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn cấp THPT tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2010”, tác giả Trần Văn Thanh (2014) với đề tài “Quản lý đội ngũ cộng tác viên thanh tra giáo dục tỉnh Bắc Ninh” đã chỉ ra một số bất cập công tác xây dựng 11 đội ngũ cộng tác viên thanh tra giáo dục trên địa bàn và đề xuất một số giải pháp nhằm cải tiến công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra giáo dục trên địa bàn.
Nhìn chung các tác giả nêu trên chủ yếu đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra, công tác nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo, thanh tra chuyên môn các trường THPT. Đối với công tác quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB nói chung và thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB các trường trung học phổ thông nói riêng, đặc biệt là trên địa tỉnh Bình Phước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu. Xuất phát từ thực trạng trên, tôi nhận thấy công tác quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB các trường trung học phổ thông cần được khai thác, nghiên cứu, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác thanh tra chuyên ngành các trường THPT, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại; là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Theo tác giả Phạm Viết Vượng (2003), “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan”, theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012): "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức". Vậy, Quản lý là hệ thống những tác động gây ảnh hưởng, có chủ định, phù hợp quy luật khách quan chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua việc thực 12 hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm khai thác và vận dụng tốt nhất tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu chung của hệ thống trong một môi trường luôn biến động. Quá trình biến động thể hiện qua sơ đồ: MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý 1.
Chức năng quản lý Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012) "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. Vậy, chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý, có 04 chức năng cơ bản sau: - Chức năng kế hoạch Đây được xem là chức năng quan trọng nhất trong hoạt động quản lý. Để thực hiện chức năng này, nhà quản lý thiết kế (lập kế hoạch) trước các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt các mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu các nguồn lực, vật lực đã có và sẽ khai thác.