Chương I, điều 10 của Luật giáo dục Cao đăng nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa có ghi: “Nhà nước bảo đảm quyền tự do NCKH, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hoá khác trong các trường cao đắng theo đúng luật.”, trong đó chú trọng đến quyền và nghĩa vụ NCKH của cán bộ, giảng viên và học viên, coi đây là một biện pháp nâng cao chất lượng đảo tạo. Nhờ có các công trình nghiên cứu vô cùng quan trọng, hữu ích của các nhà khoa học đi trước, tác giả mới có tiền đề xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tải này. Ở Việt Nam, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã ban hành hàng loạt các quy định, quy chế về NCKH và được các trường đại học, cao đăng trên cả nước cụ thể hoá thực hiện. Bên cạnh đó có nhiều công trình NCKH đã chú trọng nghiên cứu công tác NCKH của cán bộ, giảng viên, học viên ở các khía cạnh khác nhau.
Năm 1992, tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức đã đưa ra những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục, trong đó có đề cập đến những nguyên tắc phương pháp luận, những giai đoạn nghiên cứu một đề tài khoa học và những kỹ năng cần thiết về NCKH trong Giáo trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”. Công trình “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của tác giả Vũ Cao Đàm đã chỉ ra câu trúc cơ bản của một công trình NCKH. Các vẫn đề khoa học trong công trình nghiên cứu này được trình bảy theo một mối liên hệ logic với ý tưởng khoa học. Đối với những người đã và đang bước vào con đường NCKH thì công trình nghiên cứu này là một cẩm nang vô cùng quý báu bởi nó có những hướng dẫn rất cụ thể.
Đây thực sự là những kiến thức lý luận quan trọng giúp cho cá nhân, tập thể tham gia nghiên cứu co thé tiến hành các công trình nghiên cứu khoa học của mình đạt được chất lượng và hiệu quả cao.[19] Trong giáo trình “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của tác giả Phạm Viết Vượng đã tông quát vấn đề chung nhất về khoa học và NCKH; lý thuyết và phương pháp NCKH. Hoạt động NCKH là nội dung cơ bản của giáo trình, trong đó có quản lý tiềm lực khoa học, tô chức triển khai các đề tài NCKH, khảo sát, đánh giá công trình nghiên cứu và công bố kết quả NCKH. [50] Cuốn “Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Kiểm đã trình bày một cách khái quát về khoa học quản lý giáo dục. Công trình nghiên cứu của tác giả đã đề cập đến công tác quản lý các hoạt động nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, dự báo xu thế và quản lý giáo dục trên thế giới và trong nước đồng thời chỉ ra những thách thức và thời cơ đối với quản lý giáo dục nói chung, quản lý hoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng.
[31] Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động NCKH ở Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Hồ Thảo là công trình nghiên cứu khăng định vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH đối với giáo dục đại học. Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ rõ sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này trong quá trình đổi mới giáo dục đại học hiện nay. Qua đó, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của Trường Đại học Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tính kha thi.[50] Luận văn thạc sĩ Giáo dục học: “Quản lý hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên trường Đại học sư phạm kĩ thuật thành phố Hồ Chí Minh”, năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã đã tập trung nghiên cứu, khảo sát, đánh giá công tác quản lý của cán bộ quản lý đối với hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phó Hồ Chí Minh trong. Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những giải pháp quản lý hoạt động chuyên môn của giảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường.
Tác giả Nguyễn Đức Hiếu đã tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động NCKH, đề ra một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên ở trường Sĩ quan Chính trị trong luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên, Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay”. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ khoa học đáng giá, giúp cho các cấp lãnh đạo, chỉ huy ở trường Sĩ quan Chính trị tổ chức quản lý hoạt động NCKH của giảng viên đạt chất lượng và hiệu quả. Năm 2015, tác giả Đỗ Thanh Tùng đã làm rõ được cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng hệ thống biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của giáo viên trung học phố thông, góp phần thúc đây và nâng cao chất lượng giảng dạy các môn văn hóa, từ đó nâng cao chất lượng NCKH trong các trường trung học phô thông thành phố Lào Cai trong luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động NCKH sư phạm ứng dụng của giáo viên trung học phô thông thành phố Lào Cai, tinh Lao Cai”. Năm 2015, tác giả Nguyễn Như Duẫn đã chỉ ra cơ sở lý luận, thực tiễn, xây dựng hệ thống biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên, tạo tiền đề thúc đầy và nâng cao chất lượng giáo dục và dao tao trong nhà trường trong luận văn “Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên Trường Đại học khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Van dé liên quan đến hoạt động NCKH và quản lý hoạt động NCKH được rất nhiều tác giả quan tâm và tiếp cận ở góc độ khác nhau. Trong tạp chí Khoa 9 học và Giáo dục An ninh đã công bố kết quả nghiên cứu của khá nhiều tác giả như: Bài viết “Đổi mới tổ chức và hoạt động công tác NCKH lịch sử Công an nhân dân trong tình hình mới” của tác giả Nguyễn Bình Ban, bài viết “Một số vấn đề về chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học Công tác khoa học Công an hiện nay” của tác giả Nguyễn Quang Chữ. “Đổi mới công tác lưu trữ góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học ở Học viện An ninh nhân dân” của tác giả Nguyễn Hữu Hòa. Hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả đều đề cập đến vấn đề NCKH của giảng viên và sinh viên ở các góc độ và khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, một vấn đề theo tác giả nhận thấy có vai trò vô cùng quan trọng là quản lý hoạt động NCKH trong hệ thống cao đăng còn đang bỏ ngỏ, cần phải tiếp tục được nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện. Kế thừa và phát huy những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả tiếp tục đi sâu tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động NCKH để tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm quản lý tốt hoạt động NCKH, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở trường Cao đăng an ninh nhân dân I, Bộ Công an. Các khái niệm cơ bản 1. Khoa học Thuật ngữ “khoa học” được hiểu theo nhiều góc độ và mức độ nhận thức khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận.
- Nếu quan niệm rằng khoa học là hệ thống kiến thức, tri thức của con người về thế giới mà họ đã tìm kiếm, phát hiện và tích lũy được trong lịch sử phát triển của xã hội thì khoa học là “.éoàn bộ hệ thống kiến thức mà nhân loại đã tích luỹ được về những quy luật trong sự phát triển của tự nhiên, của xã hội và f duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ loi ich cua con người”. |44| Đại bách khoa toàn thư Liên Xô (trang 241, quyền XIX) có viết: “ Khoa học là hệ thong tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật phát 10 triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tt duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.” Tiếp cận theo quan niệm này thì khoa học là một sản phẩm hoạt động của con người và do con người tích lũy được. - Nếu quan niệm khoa học là một quá trình nhận thức tìm tòi, phát hiện các qui luật của sự vật, hiện tượng và vận dụng các qui luật đó dé sáng tạo ra các giải pháp tác động vào thế giới phục vụ lợi ích của con người. - Dưới góc độ triết học, khoa học được hiểu như một phạm trù triết học là một hình thái ý thức xã hội, một bộ phận hợp thành của ý thức xã hội.
Theo tiếp cận của tác giả Phạm Viết Vượng thì khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra hệ thống chân lý về thé gi0i, được diễn đạt bằng các khái niệm, phạm trù trìu tượng, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết. Thế giới được khoa học phản ánh bằng các phương thức và công cụ đặc biệt, khoa học không những hướng vào giải thích thế giới mà còn nhằm cải tạo thế giới. [52] Theo tác giả Lưu Xuân Mới, định nghĩa khoa học là những tri thức được hệ thống, khái quát hoá từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm. Khoa học phản ánh dưới dang légic và trìu tượng.
Nó khái quát những cấu trúc, thuộc tinh, những mối liên hệ bản chất của những quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Bên cạnh đó, khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến đôi thế giới đó phục vụ cho lợi ích con người, xã hội. Quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, .tự nhiên và xã hội được gọi là khoa học. Đó là một hệ thống tri thức về qui luật vận động của vật chất và những qui luật của tự nhiên, xã hội.