Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục - Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Sa Pa theo tiêu chuẩn kiểm định" theo yêu cầu. Dưới đây

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

156
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học

Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện Sapa, tỉnh Lao Cai là nhiệm vụ trọng tâm trong đảm bảo chất lượng giáo dục. Kiểm tra nội bộ trường học là hoạt động do chính nhà trường tổ chức, nhằm đánh giá toàn diện các mặt hoạt động giáo dục theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Hoạt động này bao gồm việc xem xét, thu thập, phân tích thông tin về thực trạng tổ chức và quản lý nhà trường. Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT quy định rõ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông. Các tiêu chuẩn đánh giá tập trung vào nhiều nhóm tiêu chí: tổ chức quản lý, đội ngũ cán bộ giáo viên, cơ sở vật chất, hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục. Ở huyện Sapa, điều kiện địa hình phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý kiểm tra nội bộ. Nghiên cứu tổng quan các công trình trong nước và quốc tế giúp xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài này. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiểm tra nội bộ hiệu quả giúp nhà trường tự đánh giá, phát hiện điểm mạnh và hạn chế để cải tiến liên tục.

1.1. Khái niệm kiểm tra nội bộ theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục

Kiểm tra nội bộ trường học là quá trình đánh giá do chính cơ sở giáo dục tiến hành, nhằm xác định mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Hoạt động này bao gồm xem xét, thu thập, phân tích thông tin về thực trạng tổ chức và quản lý nhà trường. Kiểm tra nội bộ phục vụ hai chức năng chính: giám sát và thúc đẩy. Chức năng giám sát giúp phát hiện sai lệch so với chuẩn mực quy định. Chức năng thúc đẩy nhằm phát hiện, phổ biến kinh nghiệm tốt và kiến nghị cải tiến. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kiểm tra nội bộ phải tuân thủ nguyên tắc khoa học, khách quan, toàn diện và hệ thống.

1.2. Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ

Hiệu trưởng trường tiểu học đóng vai trò trung tâm trong quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ. Người hiệu trưởng chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và giám sát toàn bộ quy trình kiểm tra nội bộ. Theo Điều lệ trường tiểu học, hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong ban kiểm tra nội bộ. Người đứng đầu nhà trường còn có trách nhiệm đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra và báo cáo kết quả cho cấp trên. Ở huyện Sapa, hiệu trưởng cần linh hoạt áp dụng các hình thức kiểm tra phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.

II. Phân tích thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở trường tiểu học huyện Sapa

Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện Sapa, tỉnh Lao Cai có nhiều điểm đáng ghi nhận nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Nghiên cứu khảo sát thực tế tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện cho thấy công tác kiểm tra nội bộ đã được triển khai theo quy định. Tuy nhiên, hiệu quả chưa đạt kỳ vọng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, huyện Sapa có địa hình núi cao, giao thông đi lại khó khăn, nhiều điểm trường lẻ nằm rải rác. Về chủ quan, năng lực cán bộ quản lý và giáo viên trong công tác kiểm tra còn hạn chế. Một số trường chưa xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ bài bản, chưa bám sát tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Việc thu thập minh chứng, lưu trữ hồ sơ kiểm tra chưa khoa học, thiếu hệ thống. Kết quả kiểm tra nội bộ chưa được khai thác triệt để để cải tiến chất lượng giáo dục. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tiêu chí đạt ở tiêu chuẩn 1 (Tổ chức và quản lý) dao động từ 88,33% đến 95%, phản ánh mức độ đáp ứng khá nhưng chưa đồng đều.

2.1. Kết quả đạt được trong hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường tiểu học

Kết quả khảo sát thực trạng tại các trường tiểu học huyện Sapa cho thấy nhiều tiến bộ trong hoạt động kiểm tra nội bộ. Phần lớn các trường đã thành lập ban kiểm tra nội bộ và xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng năm. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục được áp dụng tương đối đầy đủ, bao gồm tiêu chuẩn về tổ chức quản lý, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và hoạt động giáo dục. Tỷ lệ đạt tiêu chí ở tiêu chuẩn 1 khá cao, với nhiều chỉ tiêu đạt trên 90%. Công tác lưu trữ hồ sơ, văn bản đã được quan tâm theo quy định của Luật Lưu trữ. Các cuộc vận động và phong trào thi đua được tổ chức và duy trì thường xuyên.

2.2. Hạn chế và thách thức trong quản lý kiểm tra nội bộ tại huyện Sapa

Nhiều hạn chế trong quản lý kiểm tra nội bộ tại huyện Sapa cần được khắc phục. Thứ nhất, một số hiệu trưởng chưa nhận thức đầy đủ vai trò của kiểm tra nội bộ trong đảm bảo chất lượng giáo dục. Thứ hai, năng lực xây dựng kế hoạch kiểm tra và khai thác minh chứng của cán bộ quản lý còn yếu. Thứ ba, điều kiện địa hình phức tạp gây khó khăn cho việc kiểm tra tại các điểm trường lẻ. Thứ tư, kinh phí đầu tư cho hoạt động kiểm tra nội bộ còn hạn chế. Thứ năm, việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý kiểm tra chưa được triển khai rộng rãi. Những thách thức này đòi hỏi giải pháp đồng bộ và phù hợp với đặc thù địa phương.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kiểm tra nội bộ trường tiểu học

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện Sapa, tỉnh Lao Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Giải pháp đầu tiên tập trung vào nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của kiểm tra nội bộ. Giải pháp thứ hai liên quan đến việc hoàn thiện quy trình kiểm tra nội bộ, từ khâu xây dựng kế hoạch đến triển khai và tổng kết. Giải pháp thứ ba chú trọng đào tạo, bồi dưỡng năng lực kiểm tra cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Giải pháp thứ tư đề xuất tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ kiểm tra nội bộ. Giải pháp thứ năm nhấn mạnh vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý kiểm tra. Các giải pháp cần được triển khai có lộ trình, phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường. Sự phối hợp giữa Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Sapa với các trường tiểu học là yếu tố then chốt đảm bảo tính hiệu quả của các giải pháp đề ra.

3.1. Hoàn thiện quy trình kiểm tra nội bộ theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

Hoàn thiện quy trình kiểm tra nội bộ là giải pháp cốt lõi nâng cao hiệu quả quản lý. Quy trình kiểm tra nội bộ cần tuân thủ các bước: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, tổng hợp kết quả và kiến nghị cải tiến. Kế hoạch kiểm tra phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, thời gian và phương pháp kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Quá trình thực hiện cần đảm nguyên tắc khoa học, khách quan, toàn diện và công khai. Việc thu thập minh chứng phải đầy đủ, chính xác và có hệ thống. Kết quả kiểm tra cần được phân tích, đánh giá và sử dụng làm cơ sở cho việc cải tiến chất lượng giáo dục liên tục.

3.2. Đào tạo năng lực kiểm tra cho cán bộ quản lý và giáo viên huyện Sapa

Đào tạo, bồi dưỡng năng lực kiểm tra nội bộ cho cán bộ quản lý và giáo viên là giải pháp có tính chiến lược. Chương trình đào tạo cần tập trung vào kiến thức về tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục theo Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT. Nội dung bồi dưỡng bao gồm kỹ năng xây dựng kế hoạch kiểm tra, thu thập và phân tích minh chứng, viết báo cáo kiểm tra. Hình thức đào tạo có thể kết hợp giữa tập trung và hướng dẫn tại chỗ, phù hợp với điều kiện đi lại khó khăn ở huyện Sapa. Việc tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề về quản lý kiểm tra nội bộ giúp nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ. Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ kiểm tra.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn quản lý kiểm tra nội bộ trường tiểu học

Nghiên cứu quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện Sapa, tỉnh Lao Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thứ nhất, nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm tra nội bộ trường tiểu học theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Thứ hai, nghiên cứu đã khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại các trường tiểu học huyện Sapa một cách toàn diện. Thứ ba, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kiểm tra nội bộ phù hợp với điều kiện thực tế. Các giải pháp đề xuất bao gồm nâng cao nhận thức, hoàn thiện quy trình, đào tạo năng lực và tăng cường cơ sở vật chất. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý giáo dục ở huyện Sapa nói riêng và các huyện miền núi nói chung. Nghiên cứu cũng chỉ ra hướng phát triển cho hoạt động kiểm tra nội bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Việc áp dụng các giải pháp đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Sapa.

4.1. Kết luận chính từ nghiên cứu quản lý kiểm tra nội bộ trường tiểu học

Nghiên cứu đã rút ra nhiều kết luận quan trọng về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện Sapa. Kết quả cho thấy công tác kiểm tra nội bộ đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao. Các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục được áp dụng nhưng chưa đồng đều giữa các trường. Năng lực cán bộ quản lý trong công tác kiểm tra nội bộ còn nhiều hạn chế. Điều kiện địa hình và kinh phí là những thách thức lớn đối với hoạt động kiểm tra nội bộ. Nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của hiệu trưởng trong quản lý kiểm tra nội bộ. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi và phù hợp với đặc thù địa phương huyện Sapa.

4.2. Ứng dụng và kiến nghị cho các trường tiểu học huyện Sapa

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lý giáo dục tại huyện Sapa. Các trường tiểu học có thể áp dụng mô hình quản lý kiểm tra nội bộ đã được đề xuất để nâng cao chất lượng. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Sapa nên sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở xây dựng chỉ đạo chuyên môn. Nghiên cứu kiến nghị Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lao Cai quan tâm đầu tư kinh phí cho hoạt động kiểm tra nội bộ. Các trường cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ kiểm tra. Việc tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề về kiểm tra nội bộ theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cần được duy trì thường xuyên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học huyện sapa tỉnh lào cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ THEO TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ngoài nước Hoạt động KTNB trường học được gọi theo nhiều cách khác nhau và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình và báo cáo nghiên cứu liên quan đến KTNB ở một số nước như sau: Trong nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” tại Hà Lan của tác giả Ah-Teck, J.

[2014- Tạp chí Journal of Educational Administration, 52(6), 833 -849] tập trung nghiên cứu việc Hiệu trưởng ở các trường thuộc auritius (Hà Lan) sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lượng nội bộ trong việc đưa ra quyết định cải thiện môi trường giáo dục. Kết quả nghiên cứu của các tác giả cũng cho thấy việc quản lý chất lượng KTNB rất quan trọng và nó còn quan trọng hơn khi các Hiệu trưởng sử dụng kết quả đó trong các quyết định của mình trong quá trình quản lý nhà trường. (2001) người Mỹ, trong một nghiên cứu với tên: “Đánh giá kiểm tra nội bộ” (Local Education Authority), đề cập về các nhân tố tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học. Nghiên cứu này được thực hiện trên một số trường tại Mỹ.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo quản lý tốt sẽ duy trì hoạt động KTNB và hướng tới tầm nhìn rõ ràng về sự phát triển của giáo dục. Hai tác giả người Anh là Hall, C. (2007), nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân”. Tại nghiên cứu này, các tác giả phân 6 tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trường học.

Đồng thời xem xét mối liên hệ giữa Thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTNB trường học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trường học hưởng ứng và thực hiện tốt công tác KTNB trường học, không những thế KTNB trường học được giáo viên sử dụng như một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân. Cũng tại Mỹ các tác giả McNaughton, S. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình kiểm tra nội bộ trường học” (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hóa, đa sắc tộc.

Nghiên cứu này trình bày tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học phục vụ việc dạy và học của các trường học thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó nâng cao vai trò của Hiệu trưởng cũng như nâng cao hoạt động quản lý đối với mô hình KTNB trường học đã giúp cho việc quản lý Nhà trường một cách có hiệu quả. Nghiên cứu trong nước Hiện nay ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu quản lý hoạt động KTNB trường học. Cụ thể: Về quản lý nhà trường các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Sỹ Tiến đều nghiên cứu về quản lý giáo dục.

Trong các công trình của mình, các tác giả đều đưa ra các nguyên tắc chung của quá trình Dạy - Học, từ đó chỉ ra một số biện pháp quản lý nhà trường. Trong đó biện pháp thanh tra, kiểm tra là một trong những biện pháp hữu hiệu để duy trì hoạt động của nhà trường đi đúng mục tiêu, kế hoạch đã định ra cho nhà trường trong từng thời kỳ phát triển. Trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học”, tác giả Hà Sĩ Hồ chỉ ra rằng: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng, vì quá trình quản lý đòi 7 hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…”. Ông khẳng định “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và quản lý trở thành quản lý quan liêu” (dẫn theo [16]).

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang chỉ ra rằng: “… kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc, chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoặc tiếp theo (năm học) việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ” [24]. Tác giả kết luận: “… kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý.

Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra không có quản lý”. Ngoài ra, một số đề tài, luận văn tốt nghiệp của các học viên thuộc ngành quản lý giáo dục cũng có các nghiên cứu, đánh giá về một số biện pháp, sáng kiến quản lý hoạt động KTNB trường học nói chung và KTNB trường Tiểu học nói riêng. Tuy nhiên các đề tài, sáng kiến kinh nghiệm của các học viên này thường nghiên cứu công tác KTNB trường học trong phạm vi các trường trong một Huyện của Phòng GD&ĐT thuộc Sở GD&ĐT của một tỉnh.

Cụ thể: Đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng KTNB trường Trung học cơ sở” của tác giả Nguyễn Duy Hưng. Đề tài này đề cập đến thực trạng công tác KTNB trường học của trường Trung học cơ sở Quang Yên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời tác giả đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng KTNB trường học như: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng kế hoạch và nội dung kiểm tra phù hợp; xây dựng lực lượng KTNB; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cả về chuyên môn và nghiệp vụ KTNB trường học; tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho công tác KTNB trường học… 8 Từ một số nghiên cứu trên đây có thể thấy, KTNB trường học được các nhà quản lý giáo dục trong nước và nước ngoài rất coi trọng. Công tác KTNB trường học được đánh giá cao trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh Đồng thời các nghiên cứu trên đây cũng cho thấy công tác KTNB trường học được thực hiện thường xuyên tại các trường phổ thông nói chung và tại các trường Tiểu học nói riêng.

Tuy nhiên những công trình nghiên cứu tổng thể nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động KTNB trường học trong đó có trường Tiểu học theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng ở huyện miền núi khó khăn như Sapa chưa nhiều. Vì vậy rất cần có sự nghiên cứu để tổng kết và chia sẻ kinh nghiệm. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý - Trong Từ điển bách khoa Việt Nam có nêu: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [28, tr.

- Tác giả Nguyễn Minh Đạo:“Quản lý là sự chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [16, tr. - Theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” (dẫn theo [1, tr. Theo quan điểm của một số học giả nước ngoài: - Theo F. Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.

Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ đã khái quát quan điểm của F.Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình; 9 - Cùng thời với F.Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H.Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó.Fayon: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, phối hợp và kiểm tra” (dẫn theo [19]). - Theo Harol Koonzt: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [19, tr. Qua một số khái niệm nêu trên theo chúng tôi có thể hiểu: Quản lý là những tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý đã đề ra. Kiểm tra Khái niệm kiểm tra có thể được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước.

Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem xét sự phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan). Theo tác giả Nguyễn Hữu Luận, kiểm tra được thể hiện ở nhiều góc độ như sau (dẫn theo [21]): + Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình, để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, hiệu quả hơn; + Kiểm tra là hoạt động của tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt, hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện; + Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước.Mockler: “Kiểm tra là một nỗ lực có tính hệ thống, nhằm thiết lập những hệ thống quản trị, những phản hồi thông tin, nhằm so sánh những kết quả thực hiện với định mức đã đề ra, và để đảm bảo rằng các nguồn lực đang được sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt được mục tiêu của tổ chức” (dẫn theo [13, tr.Merchant, kiểm tra bao gồm tất cả các hoạt động mà nhà quản trị thực hiện để đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ