CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về giáo dục chính trị tư tưởng từ xưa đến nay đã có rất nhiều tác phẩm, tác giả. Tuy nhiên, tùy theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau mà các tác giả, tác phẩm cũng có cách đánh gia và nhìn nhận khác nhau.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Tư tưởng giáo dục, chính trị của Khổng Tử Tư tưởng xuyên suốt của Khổng Tử chính là chữ “nhân”, ông lấy chữ “nhân” làm gốc và cho rằng nó gắn bó chặt chẽ với đạo – đạo đức – lòng yêu thương con người, yêu thương vạn vật. Theo Khổng Tử, gốc của nhân là hiếu đễ lễ nghĩa, trung thực vị tha, vì người chính là vì mình. Nhân theo Khổng Tử còn là “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” nghĩa là biết coi trọng tình người, tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác, tự bụng mình mà suy ra bụng người, lúc nào cũng lấy cái tâm đức trong sáng để nghĩ về sự việc đã xẩy ra, sự việc liên quan đến người khác mà có cách xử sự đầy tình người. Để thực hiện được Nhân, Khổng Tử cho rằng con người phải có lễ.
Lễ là các quy phạm đạo đức hợp thành một hệ thống qui tắc xử thế. Trong suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh dạy chữ, bao giờ Khổng Tử cũng chú trọng vào dạy người, ở đây đề cao thuyết đức trị.45] Từ nội dung của học thuyết mà Khổng Tử đã áp dụng vào giáo dục mang tính nhập thế và tích cực. Ông đề xướng “thuyết tôn hiền”. Những tư tưởng ấy của Khổng Tử trong bối cảnh rối ren của xã hội đương thời rất khó thực hiện, song đó là những quan điểm có giá trị được thế hệ sau kế thừa, phát triển và đến nay vẫn còn đáng trân trọng về nội dung, chủ trương và cả 7 phương pháp giáo dục.
Tư tưởng chính trị của C. Ăngghen Hệ tư tưởng Đức là một trong những tác phẩm do C.Ăngghen viết chung vào cuối năm 1845 đầu năm 1846, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác. Đây không chỉ là tác phẩm lý luận quan trọng trong thời kỳ hình thành triết học Mác, mà còn là tác phẩm đầu tiên thể hiện sự trưởng thành đến độ chín muồi của chủ nghĩa Mác. Trong Hệ tư tưởng Đức, các ông đã đề cập đến một loạt vấn đề lý luận quan trọng; đặc biệt, ở đây, lần đầu tiên, quan niệm duy vật về lịch sử - một trong hai phát kiến vĩ đại của C.Mác, được trình bày một cách tương đối toàn diện và sâu sắc.
Với quan niệm duy vật về lịch sử, C.Ăngghen đã tạo cơ sở lý luận khoa học vững chắc cho sự phát triển tư tưởng về cách mạng vô sản và đặt nền móng cho chủ nghĩa cộng sản khoa học. Với quan niệm duy vật về lịch sử, trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Ăngghen đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho sự phát triển tư tưởng về cách mạng vô sản. Theo các ông, cách mạng vô sản là một quy luật tất yếu mà lịch sử phải trải qua trong tiến trình vận động, phát triển của nó. Những tiền đề vật chất của cuộc cách mạng đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hình thành giai cấp vô sản.
Về tính chất, nó là cuộc cách mạng triệt để, toàn diện và sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, những tư tưởng của C.Ăngghen trong “Hệ tư tưởng Đức” về cách mạng vô sản vẫn còn nguyên giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn. Tư tưởng chính trị của Lênin Lênin là người tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản, thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tập hợp mọi lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống 8 chủ nghĩa đế quốc. Lênin đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào giải quyết mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản.
Lênin đã phát triển vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác thành vấn đề dân tộc và thuộc địa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa; đề ra những nguyên tắc có tính cương lĩnh của giai cấp vô sản về vấn đề dân tộc; coi phong trào giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi cũng như chủ nghĩa sô vanh nước lớn. Khẩu hiệu của Mác "Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại" đã được Lê-nin phát triển thành "Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!". Dưới ngọn cờ của Lê-nin, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phátxít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã. Tên tuổi của Lênin đã gắn liền với những cải biến cách mạng vĩ đại nhất trong xã hội loài người từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất". [24] Một số tác phẩm nước ngoài Đã có nhiều học giả Liên Xô bàn về công tác tư tưởng lý luận nói chung, cũng như GDLLCT nói riêng.
Đã có khá nhiều trong số đó đã được dịch sang tiếng Việt, tiêu biểu như một số cuốn sách: Phương pháp luận công tác tư tưởng của D. Vôncôgônốp ; Hình thành niềm tin cho thế hệ trẻ của V. Xukhômlinxki; Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô của X. Xurơnitrencô;… đã tập trung nhấn mạnh một số nội dung chính cần phải 9 giáo dục như: chủ nghĩa Mác - Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Liên Xô; chính sách, luật pháp của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết; giáo dục bản chất cách mạng của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội… từ đó, hình thành và củng cố niềm tin tuyệt đối của đảng viên và quần chúng vào Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân.
Các nghiên cứu ở trong nước Dưới góc độ nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học như: “Quan điểm về đạo đức và lối sống của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chi Minh” (Võ Xuân Đàn, Đoàn Văn Điều, Võ Thị Ngọc Châu – 2003). “Biện pháp giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng” (Huỳnh Ngọc Thời – 2012). Nghiên cứu về vấn đề GDCTTT cho sinh viên có một số công trình như: “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế tài chính tỉnh Thái Nguyên (Chu Mạnh Cường – 2009). “Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho sinh viên Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập và phát triển” ( Huỳnh Công Ba – 2011).
“Công tác giáo dục chính trị tưởng cho sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” (Nguyễn Văn Kiên – 2014). Đặc biệt, có một công trình nghiên cứu về vấn đề này tương đối lớn, mang tầm cấp nhà nước. Tuy nhiên công trình này đã được thực hiện cách đây khá lâu, đó là đề tài: “Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng, Lưu Thu Thủy – thực hiện từ năm 1999 đến 2001). Đề tài đã tiến hành khảo sát 2.271 học sinh, sinh viên và 176 cán bộ, giáo viên tại ba thành phố lớn Hà Nội, Đà Nẵng và TP.
Hồ 10 Chí Minh. Kết quả của đề tài đã đề xuất được nhiều giải pháp cho công tác GDCTTT và đạo đức cho học sinh, sinh viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các khái niệm chính của đề tài 1. Giáo dục chính trị - tư tưởng Thuật ngữ “Chính trị” có lẽ được nhắc đến lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại bởi Aristotle - một triết gia Hi Lạp cổ đại.
Chính trị ở đây có nghĩa là nghệ thuật cai trị và quản lý thành bang của một nhà lãnh đạo lỗi lạc, xuất chúng hay là khoa học giành và nắm giữ vương quyền trong thiên hạ. Hay nói cách khác, chính trị là toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước; sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước. Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh.
Tư tưởng không phải là những cái có sẵn hay đã được đóng khung từ trước. Nó có thể được sinh ra và phát sinh trong quá trình trao đổi, suy nghĩ và nhận thức của con người. Tư tưởng được mọi người tiếp thu có chọn lọc dưới dạng lĩnh hội lẫn phê phán. Theo đó tư tưởng là gì? Đó là cái gì đó không giới hạn, nó luôn được hình thành trong quá trình tiếp thu của con người.
Tư tưởng có thể có dạng tích cực và tiêu cực.