Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh sinh viên trường cao đẳng sư phạm gia lai

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích quản lý giáo dục biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh sinh viên trường cao đẳng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản lý Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nếp sống văn hóa

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục với đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai” của tác giả Nguyễn Phú Quốc là một công trình nghiên cứu chuyên sâu và cấp thiết. Nghiên cứu này tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý giáo dục, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi. Mục tiêu cốt lõi là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là hình thành nhân cách và nếp sống văn hóa cho thế hệ nhà giáo tương lai. Bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra nhiều thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của giới trẻ. Một bộ phận sinh viên có biểu hiện sa vào lối sống thực dụng, thiếu lý tưởng, làm xói mòn các giá trị truyền thống. Điều này đòi hỏi một hệ thống các giải pháp quản lý giáo dục đồng bộ và hiệu quả. Luận văn khẳng định, giáo dục đạo đức lối sống không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Đối với sinh viên sư phạm, việc rèn luyện nếp sống văn hóa càng quan trọng hơn, bởi họ chính là những người sẽ định hình nhân cách cho thế hệ tương lai. Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận khoa học, kết hợp phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang tính ứng dụng cao, góp phần cải thiện công tác quản lý sinh viên và xây dựng một môi trường sư phạm lành mạnh, chuẩn mực.

1.1. Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức lối sống cho sinh viên

Việc giáo dục đạo đức lối sống cho sinh viên, đặc biệt là đặc điểm sinh viên sư phạm, giữ vai trò nền tảng trong mục tiêu giáo dục toàn diện. Sinh viên không chỉ cần trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, lý tưởng sống cao đẹp và văn hóa ứng xử trong trường học chuẩn mực. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh việc đào tạo những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII cũng chỉ rõ những lo lắng của xã hội trước sự suy thoái đạo lý trong một bộ phận học sinh, sinh viên. Do đó, việc xây dựng và quản lý nếp sống văn hóa trong các trường cao đẳng, đại học là nhiệm vụ cấp bách. Một sinh viên có nếp sống văn hóa tốt sẽ có ý thức tự giác trong học tập, trung thực trong thi cử, tôn trọng thầy cô, bạn bè và có trách nhiệm với cộng đồng. Những giá trị này là hành trang không thể thiếu để họ trở thành những công dân ưu tú, cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận văn của tác giả Nguyễn Phú Quốc đã khẳng định vai trò tiên quyết này, xem đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho HSSV

Luận văn đã hệ thống hóa một cách chi tiết cơ sở lý luận về quản lý giáo dục nếp sống văn hóa. Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Trong khi đó, nếp sống văn hóa là những thói quen, hành vi, cách ứng xử phù hợp với các giá trị, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Từ đó, “quản lý giáo dục nếp sống văn hóa” là quá trình tác động có định hướng vào sinh viên để hình thành và phát triển những thói quen, hành vi văn hóa trong học tập, sinh hoạt và giao tiếp. Quá trình này bao gồm bốn chức năng cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá. Việc nghiên cứu các khái niệm này một cách bài bản giúp xác định rõ đối tượng, nội dung và phương pháp quản lý, tạo nền tảng vững chắc cho việc phân tích thực trạng và xây dựng các giải pháp quản lý giáo dục hiệu quả tại Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai.

II. Phân tích thực trạng quản lý giáo dục nếp sống văn hóa HSSV

Chương 2 của luận văn tập trung khảo sát và đánh giá sâu sắc thực trạng nếp sống văn hóa và công tác quản lý tại Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai giai đoạn 2012-2015. Kết quả khảo sát cho thấy, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, công tác quản lý vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Về mặt nhận thức, đa số cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên đều nhận thấy tầm quan trọng của nếp sống văn hóa (75% CBQL và 76% HSSV đánh giá là “rất quan trọng”). Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ vẫn còn xem nhẹ vấn đề này. Về công tác quản lý, các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức đến kiểm tra, đánh giá đều bộc lộ hạn chế. Kế hoạch giáo dục thường mang tính hình thức, chưa cụ thể và thiếu tầm nhìn dài hạn cho cả khóa học. Việc tổ chức các hoạt động còn dàn trải, chưa thu hút đông đảo sinh viên tham gia. Đặc biệt, sự phối hợp giữa các đơn vị như Phòng Công tác HSSV, các Khoa, Đoàn Thanh niên chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Công tác kiểm tra, đánh giá chưa được thực hiện thường xuyên, chủ yếu diễn ra vào cuối kỳ, làm giảm hiệu quả răn đe và điều chỉnh kịp thời. Những hạn chế này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm tác động của mạng xã hội, sự du nhập của các luồng văn hóa ngoại lai và sự thiếu hụt các kỹ năng sống cho sinh viên.

2.1. Đánh giá công tác quản lý sinh viên và những bất cập tồn tại

Luận văn chỉ ra công tác quản lý sinh viên tại trường tuy có nhiều nỗ lực nhưng vẫn còn nhiều điểm yếu. Khảo sát về thực trạng kế hoạch hóa (Bảng 2.6) cho thấy nội dung “áp dụng đa dạng nhiều biện pháp phổ biến” chỉ đạt điểm trung bình 3.98 từ HSSV, thấp nhất trong các tiêu chí. Điều này chứng tỏ việc truyền thông kế hoạch đến sinh viên còn hạn chế. Về tổ chức, sự phối hợp giữa các đơn vị được đánh giá thấp nhất (điểm TBC 3.09), thể hiện sự thiếu đồng bộ trong triển khai. Công tác kiểm tra, đánh giá (Bảng 2.9) cũng bộc lộ sự thiếu thường xuyên, với nội dung “lãnh đạo nhà trường thường xuyên kiểm tra” chỉ đạt điểm TBC 3.12. Những con số này phản ánh một cách khách quan thực trạng quản lý giáo dục nếp sống văn hóa còn nhiều lúng túng, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, đòi hỏi phải có những biện pháp cải thiện triệt để.

2.2. Các thách thức trong xây dựng môi trường văn hóa học đường

Việc xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh đối mặt với không ít thách thức. Thứ nhất, tác động của mạng xã hội và mặt trái của kinh tế thị trường dễ làm sinh viên sao nhãng mục tiêu học tập, chạy theo lối sống vật chất, thiếu lý tưởng. Thứ hai, bản thân sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm nhất, còn bỡ ngỡ khi sống xa gia đình, dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội. Luận văn ghi nhận khoảng 30% sinh viên của trường là người dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với môi trường sống tập thể. Thứ ba, sự phối hợp gia đình nhà trường xã hội còn lỏng lẻo. Nhà trường chưa có cơ chế hiệu quả để kết nối với gia đình trong việc giáo dục con em. Những thách thức này đòi hỏi các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa phải mang tính toàn diện, không chỉ tập trung vào các quy định trong trường mà còn phải mở rộng ra môi trường xã hội.

III. Top 3 biện pháp quản lý giáo dục nền tảng cho sinh viên Gia Lai

Từ phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 8 biện pháp, trong đó có 3 biện pháp mang tính nền tảng, tạo tiền đề cho các giải pháp khác. Biện pháp quan trọng hàng đầu là nâng cao ý thức sinh viên và toàn thể cán bộ, giảng viên về tầm quan trọng của nếp sống văn hóa. Khi nhận thức được nâng cao, các cá nhân sẽ tự giác rèn luyện và chủ động tham gia các hoạt động. Biện pháp thứ hai là xây dựng và ban hành một bộ chuẩn mực văn hóa sinh viên cụ thể, rõ ràng. Bộ tiêu chí này là thước đo để sinh viên tự soi chiếu, điều chỉnh hành vi và cũng là cơ sở để nhà trường thực hiện kiểm tra, đánh giá một cách công bằng, minh bạch. Các tiêu chí cần bao quát các mặt từ học tập, giao tiếp đến sinh hoạt cộng đồng. Biện pháp thứ ba là xây dựng kế hoạch giáo dục nếp sống văn hóa một cách khoa học, phù hợp và khả thi. Kế hoạch không chỉ dừng lại ở cấp năm học mà cần có tầm nhìn cho cả khóa học, với lộ trình và nội dung cụ thể cho từng giai đoạn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên. Việc thực hiện đồng bộ ba biện pháp nền tảng này sẽ tạo ra một khung pháp lý và nhận thức vững chắc, giúp công tác quản lý giáo dục nếp sống văn hóa đi vào chiều sâu và thực chất.

3.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của văn hóa học đường

Đây là biện pháp được đánh giá cấp thiết nhất (điểm TBC 4.84) và khả thi nhất (điểm TBC 4.76) trong khảo sát chuyên gia. Để nâng cao ý thức sinh viên, nhà trường cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền qua nhiều kênh: tuần sinh hoạt công dân, các buổi tọa đàm, hội thảo, lồng ghép trong các môn học và qua các phương tiện truyền thông của trường. Nội dung tuyên truyền cần nhấn mạnh văn hóa học đường không chỉ là trang phục, lời nói mà còn là thái độ học tập nghiêm túc, tinh thần trung thực, lòng nhân ái và trách nhiệm xã hội. Đối với cán bộ, giảng viên, cần quán triệt rằng mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, lối sống, tác phong cho sinh viên noi theo. Việc thay đổi nhận thức là bước đi đầu tiên và quyết định sự thành công của toàn bộ công tác quản lý.

3.2. Xây dựng bộ tiêu chí và kế hoạch giáo dục nếp sống văn hóa

Việc xây dựng bộ tiêu chí về nếp sống văn hóa của sinh viên là một bước cụ thể hóa các yêu cầu giáo dục. Các tiêu chí này, theo đề xuất của luận văn, cần tập trung vào các lĩnh vực chính: ý thức học tập, chấp hành nội quy, tham gia hoạt động chính trị - xã hội, phẩm chất công dân và quan hệ cộng đồng. Song song đó, một kế hoạch giáo dục chi tiết, khả thi cần được xây dựng. Kế hoạch phải nêu rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp, thời gian và đơn vị phụ trách cho từng hoạt động. Điều này giúp tránh tình trạng hoạt động mang tính phong trào, tự phát và đảm bảo các giải pháp quản lý giáo dục được triển khai một cách hệ thống, bài bản, có thể đo lường và đánh giá hiệu quả.

IV. Phương pháp đa dạng hóa hoạt động giáo dục nếp sống văn hóa

Để các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa không trở nên khô cứng, nhàm chán, việc đa dạng hóa các hình thức tổ chức là vô cùng cần thiết. Biện pháp này được các chuyên gia đánh giá rất cao về tính cấp thiết (4.68 điểm) và tính khả thi (4.56 điểm). Thay vì chỉ giáo dục thông qua các quy định hay bài giảng, nhà trường cần tạo ra nhiều sân chơi, diễn đàn để sinh viên trực tiếp trải nghiệm và rèn luyện. Các hoạt động ngoại khóa như cuộc thi “Nét đẹp học đường”, “Sinh viên thanh lịch”, các giải thể thao, chương trình văn nghệ, câu lạc bộ sở thích... không chỉ giúp sinh viên giải trí mà còn là môi trường để thực hành văn hóa ứng xử trong trường học. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện bộ máy quản lý, phân công rõ trách nhiệm cho từng đơn vị. Vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa trong việc khởi xướng và tổ chức các phong trào thi đua. Đồng thời, việc tăng cường kiểm tra, đánh giá thường xuyên và áp dụng cơ chế khen thưởng, kỷ luật hợp lý sẽ tạo động lực để sinh viên phấn đấu, góp phần hình thành một mô hình quản lý nếp sống năng động và hiệu quả.

4.1. Tổ chức hoạt động ngoại khóa và rèn luyện kỹ năng sống

Các hoạt động ngoại khóa là kênh giáo dục hiệu quả để hình thành nếp sống văn hóa. Nhà trường cần tổ chức thường xuyên các hoạt động như: tọa đàm chuyên đề về văn hóa giao tiếp, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, các chiến dịch tình nguyện vì cộng đồng như “Mùa hè xanh”, “Chủ nhật xanh”. Đặc biệt, cần chú trọng trang bị các kỹ năng sống cho sinh viên như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý thời gian. Những kỹ năng này không chỉ giúp sinh viên học tập tốt hơn mà còn là nền tảng để họ ứng xử văn minh và tự tin trong cuộc sống. Các hoạt động này cần được thiết kế đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với sở thích và nguyện vọng của sinh viên để thu hút sự tham gia tự nguyện, tích cực.

4.2. Hoàn thiện mô hình quản lý và tăng cường kiểm tra đánh giá

Để các hoạt động được triển khai hiệu quả, cần có một mô hình quản lý nếp sống rõ ràng. Luận văn đề xuất thành lập ban chỉ đạo cấp trường và cấp khoa, phân công một Phó Hiệu trưởng và Phó Trưởng khoa phụ trách trực tiếp. Phòng Công tác HSSV đóng vai trò thường trực, điều phối chung. Song song đó, công tác kiểm tra, đánh giá phải được tăng cường. Việc kiểm tra không chỉ giới hạn ở việc chấp hành nội quy mà còn cần quan tâm đến thái độ, hành vi, cách giao tiếp của sinh viên. Kết quả kiểm tra phải được sử dụng làm cơ sở để xếp loại rèn luyện, khen thưởng những cá nhân, tập thể tiêu biểu và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Sự kết hợp giữa tổ chức hoạt động sôi nổi và một cơ chế quản lý chặt chẽ sẽ tạo ra môi trường sư phạm vừa kỷ cương vừa năng động.

V. Kết quả ứng dụng Phối hợp lực lượng và xã hội hóa giáo dục

Một trong những biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa mang tính đột phá được luận văn đề xuất là tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục và thực hiện xã hội hóa. Thành công của công tác giáo dục không thể chỉ dựa vào nỗ lực của nhà trường. Cần có sự chung tay của gia đình và toàn xã hội. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một cơ chế phối hợp gia đình nhà trường xã hội một cách thực chất. Nhà trường cần chủ động thông tin thường xuyên về tình hình học tập, rèn luyện của sinh viên cho gia đình. Đồng thời, cần ký kết các quy chế phối hợp với chính quyền địa phương, công an khu vực để quản lý sinh viên ngoại trú, đảm bảo an ninh trật tự và ngăn chặn các tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, biện pháp “Thực hiện xã hội hóa các nguồn lực” khuyến khích việc huy động sự tham gia, hỗ trợ từ các tổ chức, doanh nghiệp, cựu sinh viên. Nguồn lực này không chỉ là tài chính để tổ chức các hoạt động mà còn là trí tuệ, kinh nghiệm từ các chuyên gia, những tấm gương thành đạt để truyền cảm hứng và định hướng cho sinh viên. Đây là hướng đi bền vững để xây dựng môi trường văn hóa học đường mở và năng động.

5.1. Tăng cường phối hợp gia đình nhà trường xã hội trong giáo dục

Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội tạo nên một vòng tròn khép kín, tác động toàn diện đến sự hình thành nhân cách của sinh viên. Nhà trường cần thiết lập các kênh liên lạc hiệu quả với phụ huynh như sổ liên lạc điện tử, các buổi họp phụ huynh định kỳ hoặc đột xuất. Về phía xã hội, nhà trường cần phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể tại địa phương, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với công an phường nơi có sinh viên cư trú để nắm bắt tình hình và phối hợp xử lý khi có vấn đề phát sinh. Sự kết hợp đồng bộ này giúp quản lý sinh viên một cách toàn diện, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi lệch chuẩn, góp phần nâng cao ý thức sinh viên một cách bền vững.

5.2. Huy động nguồn lực xã hội cho công tác quản lý sinh viên

Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Trong công tác quản lý sinh viên, việc huy động nguồn lực xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhà trường có thể kêu gọi các doanh nghiệp, cựu sinh viên thành đạt tài trợ học bổng, hỗ trợ kinh phí tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi học thuật. Ngoài nguồn lực tài chính, việc mời các chuyên gia, nhà quản lý, nghệ sĩ... đến nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm sống và làm việc sẽ mang lại những bài học thực tiễn quý báu, giúp sinh viên định hình lý tưởng và xây dựng nếp sống văn hóa phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại. Điều này không chỉ giảm gánh nặng ngân sách cho nhà trường mà còn tăng cường sự gắn kết giữa nhà trường với cộng đồng.

VI. Hướng phát triển công tác quản lý giáo dục nếp sống tương lai

Luận văn thạc sĩ không chỉ dừng lại ở việc đề xuất các biện pháp trước mắt mà còn mở ra hướng phát triển cho công tác quản lý giáo dục nếp sống văn hóa trong tương lai. Để các biện pháp phát huy hiệu quả bền vững, cần thực hiện chúng một cách đồng bộ, có hệ thống và thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm. Mối quan hệ giữa các biện pháp là hữu cơ, hỗ trợ lẫn nhau; nâng cao nhận thức là tiền đề, xây dựng kế hoạch và bộ máy là công cụ, đa dạng hóa hoạt động là phương thức, và phối hợp các lực lượng là sức mạnh tổng hợp. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp cho thấy sự đồng thuận cao từ các chuyên gia, khẳng định tính đúng đắn và phù hợp của các đề xuất. Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra những khuyến nghị cụ thể. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết hơn về xây dựng văn hóa học đường. Đối với nhà trường, cần quyết liệt áp dụng các biện pháp đã đề xuất, tăng cường đầu tư nguồn lực và xem đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Tương lai của công tác này phụ thuộc vào sự quyết tâm của lãnh đạo nhà trường và sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, giảng viên, và chính các em sinh viên.

6.1. Tổng kết và khuyến nghị từ luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục

Luận văn kết luận rằng, việc áp dụng đồng bộ 8 biện pháp được đề xuất sẽ tạo ra bước đột phá trong công tác quản lý giáo dục nếp sống văn hóa tại Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai. Các khuyến nghị chính bao gồm: (1) Nhà trường cần xây dựng bộ máy chuyên trách, có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác sinh viên. (2) Tăng cường huy động sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là phụ huynh và chính quyền địa phương. (3) Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có thành tích tốt và xử lý nghiêm các vi phạm. Những khuyến nghị này mang tính thực tiễn cao, là kim chỉ nam cho các nhà quản lý trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

6.2. Tầm nhìn cho việc xây dựng văn hóa học đường bền vững

Tầm nhìn dài hạn là xây dựng Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai không chỉ là một trung tâm đào tạo chuyên môn uy tín mà còn là một môi trường văn hóa học đường kiểu mẫu. Để đạt được điều đó, nếp sống văn hóa phải trở thành một giá trị cốt lõi, thấm sâu vào ý thức và hành động của mỗi thành viên trong nhà trường. Các giải pháp quản lý giáo dục cần được liên tục cập nhật, điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội. Việc xây dựng một thế hệ sinh viên sư phạm vừa giỏi chuyên môn, vừa có nhân cách trong sáng, lối sống văn minh chính là sự đầu tư bền vững nhất cho tương lai của ngành giáo dục và của đất nước.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh sinh viên trường cao đẳng sư phạm gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN LY GIAO DUC NEP SÓNG VAN HOA CHO HQC SINH SINH VIÊN O TRUONG CAO DANG SU PHAM 1. TONG QUAN NHUNG NGHIEN CU'U LIEN QUAN DEN DE TÀI Van héa luôn là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thê hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại. dân tộc đều có các nhu cầu: ăn, mặc, ở, sáng tạo và hưởng thụ nghệ thuật. Song để thực hiện những nhu cầu và cách thức thỏa mãn đó chính là đòi hỏi mọi người phải có nếp sống văn hóa.

Bản sắc văn hóa được thể hiện ngay trong đời sống văn hóa, NSVH của mỗi người. Đời sống văn hóa, NSVH của mỗi con người, cộng đồng người trong các giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, thể hiện trình độ văn minh, tiến bộ của xã hội, dân tộc, đất nước. Nghiên cứu lối sống, nếp sống đã được đề cập từ lâu qua nhiều tác phẩm nghiên cứu công phu như: “Bộ Thiên Nam dư hạ tập” thời Lê Thánh Tông còn ghi lại nhiều qui định của nhà nước về phong tục và nếp sống trong nhân dân: từ việc ăn uống, quần áo, nhà cửa, cho đến đám cưới, đám ma, cùng mọi sinh hoạt trong gia đình và làng xã” [15]. Nhà vua xem việc ban hành những qui định ấy là rất cần thiết nhằm củng cố chính quyền và bảo vệ sự thống trị.

Phan Kế Bính (1875 - 1921) là một nhà biên khảo và dịch thuật xuất sắc, có công phu, sáng tạo và có tư tưởng tiến bộ. Ông nghiên cứu công phu về các phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam qua bao thăng trầm của lịch sử 4000 năm. Trong tác phẩm “Việt Nam phong tục” của ông, hầu hết những phong tục xã hội, phong tục trong gia tộc, thói quen, nếp sống của con người 'Việt Nam kể từ xưa đến đầu thế kỷ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người Việt Nam, đồng thời mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong các phong tục, thói quen, nếp sống. không phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại đã nhấn mạnh việc xây dựng “Đời sống mới, cách làm việc mới”. Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ, thanh niên lòng nhân ái, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu tổ quốc. Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc xóa bỏ, cải tạo nếp sống cũ lạc hậu và xây dựng nếp sống mới là nhiệm vụ to lớn và phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành như Hồ Chủ tịch nói: Một cach rat can thận, rất chịu khó, lau dai” [17] Đời sống văn hóa, lối sống văn hóa là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc. Đời sống văn hóa, lối sống văn hóa có tác động tích cực đối với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, làm phong phú thêm các lĩnh vực trong xã hội.

Lối sống người Việt Nam chính là sư hoá thân của các đặc điểm truyền thống dân tộc, mang những nét riêng bản sắc con người và văn hoá 'Việt Nam. Nhận thức được điều này, ngay trong cuộc kháng chiến giải phóng, dân tộc, Đảng ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không quên quan tâm đến lĩnh vực văn hóa. Năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu một định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng khác. Toàn bộ những sáng tạo va phát minh đó tức là văn hóa.

Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của đó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. 10 Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công. Khái niệm và tiêu chí về con người mới, con người xã hội chủ nghĩa được Bác đặt ra và ngày một được bỗ sung, hoàn thiện trong xã hội.

Tại buổi nói chuyện với cán bộ, sinh viên đang công tác và học tập ở Matxcơva ngày 1 tháng 2 năm 1959, nhân dịp Bác sang dự Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Bác khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa”. Bác luôn quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong, đó có lớp thanh niên trí thức - những thanh niên sinh viên đang được đào tạo từ các trường dai hoc, cao ding. Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam. Nhận thức rõ về vai trò và tầm quan trọng của văn hóa, Đảng ta đã ban hành “Đề cương văn hóa Việt Nam” (năm 1943).

Trong văn kiện này xác định rõ: Văn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa). Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ mới ra đời, ngay trong những năm tháng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam mới, dù phải đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, giữ vững thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm đến việc xây dựng nền văn hóa mới cho dân tộc. Hồ Chí Minh chỉ ra trong phát biểu của Người tại Đại hội văn hóa toàn quốc lần I (năm 1946) khăng định “Văn hóa phải soi đường. cho quốc dân đi”.

Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đề cập đến những khái niệm “nếp sống mới có văn hóa”, vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội, đưa những cái đẹp đi vào i cuộc sống hằng ngày, vào lao động sản xuất. Trong Đại hội Ban chap hành Trung ương Đảng khóa V, Nghị quyết đã nhấn mạnh: “kiên trì xây dựng nếp sống lành mạnh, khoa học, tiết kiệm và giản dị, bảo vệ và phát triển các giá trị tỉnh thần. Kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan,. Tất cả những việc đó nhằm làm cho tư tưởng, tình cảm, lối sống mới thật sự chiếm ưu thế trong đời sống nhân dân”.

Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII nhắn mạnh: “Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển sản xuất, ôn định và cải thiện đời sống, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc. ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi người. hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hóa”. Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW Đảng khóa IX đã nhắn mạnh: “.

Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp đây mạnh việc xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh; hình thành các giá trị con người mới, giá trị xã hội mới làm cơ sở và động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”; đặc biệt, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề cập việc: “Phát huy tính năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các hội văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, các hộ gia đình, cá nhân, các trí thức tham gia hoạt đông trên các lĩnh vực văn hóa. Xây dựng và triển khai chương trình giáo dục văn hóa - thâm mỹ, nếp sống văn minh, hiện đại trong nhân dân”. Bên cạnh những văn bản, công trình nghiên cứu về mặt lý luận, đến nay đã có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về giáo dục NSVH và quản lý giáo dục NSVH cho thế hệ trẻ trong đó có HSSV như: Giáo dục con người hôm nay và ngày mai của tác giả Phạm Minh Hạc (1995); Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của tác giả 12 Nguyễn Khoa Điềm (2001); Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sóng cho sinh viên của Mạc Văn Trang (1998); Một số iện pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trường Cao đăng văn hóa nghệ thuật Việt Bắc của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trần Thanh Ngà (2012); Nâng cao văn hóa học đường cho sinh viên sư phạm các trường đại học, cao đẳng ở Nghệ An hiện nay của Trần Cao Nguyên (201 1); Ngoài ra, trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục, đã có nhiều luận văn nghiên cứu về quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho. HSSV như: Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho Sinh viên trường Cao đăng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương của Đặng Văn Thuận (1999); Thực trạng quản lý nếp sống văn hóa của sinh viên ở kí túc xá trường Cao đẳng Sư phạm Nha trang của Văn Ngọc Sen (2006);.

Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục nếp. sống văn hóa cho HSSV ở các trường đại học, cao đăng. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho HSSV ở Trường Cao ding Su phạm Gia Lai. Vì vậy, nghiên cứu quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho HSSV ở Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao NSVH cho HSSV Nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH ĐÈ TÀI 1. Quản lý, quản lý giáo dục a. Quản lý Khái niệm quản lý là khái niệm rất chung, tổng quát và được dùng cho. cả quá trình quản lý xã hội, quản lý giới vô sinh cũng như quản lý giới sinh vật.

Quản lý có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ hoạt động xã hội, quản lý xuất hiện từ rất lâu khi mới bắt đầu hình thành 13 xã hội loài người. Cho đến nay, quản lý bao quát hầu hết các ngành, lĩnh vực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ