Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Hà Nội. Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong các trường cao đẳng.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý đào tạo nghề tại Hà Nội hiện nay

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Hà Nội đóng vai trò xương sống trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác quản lý đào tạo nghề tại Hà Nội trở thành nhiệm vụ chiến lược, quyết định năng lực cạnh tranh của thành phố. Hoạt động này không chỉ nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học mà còn định hướng phát triển bền vững cho toàn bộ thị trường lao động Hà Nội. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, theo luận văn của tác giả Mai Thị Thơm (2014), là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền, sử dụng quyền lực công để điều hành và điều chỉnh toàn bộ hệ thống dạy nghề. Mục tiêu chính là đảm bảo trật tự, kỷ cương, thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội cùng với Tổng cục Dạy nghề là những cơ quan chủ chốt, chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển. Việc quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp bao gồm nhiều nội dung cốt lõi: từ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo, đến việc kiểm định chất lượng và huy động nguồn lực. Một hệ thống quản lý hiệu quả sẽ tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi, khuyến khích xã hội hóa, và đảm bảo sự phát triển đồng bộ giữa các trường cao đẳng nghề tại Hà Nội, đáp ứng chính xác nhu cầu nhân lực qua đào tạo của xã hội.

1.1. Vai trò của giáo dục nghề nghiệp với thị trường lao động

Giáo dục nghề nghiệp là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng và cơ cấu của lực lượng lao động. Một hệ thống đào tạo nghề hiệu quả sẽ cung cấp cho thị trường những người lao động có kỹ năng thực hành cao, thái độ chuyên nghiệp và khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ. Tại Hà Nội, đào tạo nghề gắn với việc làm là mục tiêu hàng đầu, giúp giải quyết bài toán việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân. Các chương trình đào tạo chất lượng giúp người lao động không chỉ tìm được việc làm mà còn có khả năng tự tạo việc làm, góp phần thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp. Đây là nền tảng để xây dựng một thị trường lao động Hà Nội năng động và cạnh tranh.

1.2. Cơ cấu hệ thống quản lý nhà nước về đào tạo nghề

Hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp tại Hà Nội được tổ chức theo ngành dọc, với sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương. Theo luận văn gốc, Chính phủ thống nhất quản lý, giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (mà trực tiếp là Tổng cục Dạy nghề) làm cơ quan tham mưu chính. Tại địa phương, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội có vai trò triển khai các chính sách đào tạo nghề, giám sát hoạt động của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn. Cơ cấu này nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong việc thực thi chính sách, từ quy hoạch mạng lưới, xây dựng chương trình khung, đến kiểm định chất lượng và cấp chứng chỉ, văn bằng.

II. Phân tích thực trạng quản lý dạy nghề còn nhiều bất cập

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, thực trạng quản lý dạy nghề tại Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Luận văn của Mai Thị Thơm (2014) chỉ ra rằng công tác quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng nghề tại Hà Nội còn chưa đồng đều, chủ yếu tập trung tại các quận nội thành, trong khi các huyện ngoại thành lại thiếu vắng. Sự mất cân đối này dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục nghề nghiệp cho lao động nông thôn. Chất lượng đào tạo chưa đồng nhất giữa các cơ sở, một phần do cơ chế quản lý chưa thống nhất khi một số trường trực thuộc các Bộ ngành, số khác lại thuộc UBND Thành phố. Điều này tạo ra sự chênh lệch về đầu tư, chương trình và chất lượng đầu ra. Một vấn đề nổi cộm khác là chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, chưa thực sự bám sát nhu cầu nhân lực qua đào tạo của doanh nghiệp. Khảo sát của VCCI năm 2011 cho thấy chỉ số hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng dạy nghề chỉ đạt 34%, một con số đáng báo động. Đội ngũ giáo viên dù tăng về số lượng nhưng vẫn còn một bộ phận chưa đạt chuẩn về kỹ năng nghề và nghiệp vụ sư phạm. Các yếu tố này đã và đang là rào cản lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Thủ đô, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ và đồng bộ.

2.1. Thách thức trong quy hoạch và quy mô đào tạo nghề

Công tác quy hoạch các cơ sở dạy nghề tại Hà Nội bộc lộ sự thiếu cân đối rõ rệt. Theo thống kê năm 2013, các trường cao đẳng nghề tập trung chủ yếu ở các quận trung tâm như Từ Liêm, Đống Đa, trong khi các quận huyện như Tây Hồ, Hoàng Mai, Chương Mỹ lại không có trường nào. Về quy mô, số lượng học viên theo học trình độ cao đẳng nghề còn thấp so với các cấp độ khác, cho thấy công tác phân luồng và công tác hướng nghiệp chưa hiệu quả. Tâm lý chuộng bằng cấp đại học vẫn là một rào cản lớn, khiến nhiều trường nghề gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh, ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển dài hạn.

2.2. Đánh giá hiệu quả đào tạo nghề qua số liệu thực tiễn

Việc đánh giá hiệu quả đào tạo nghề cần dựa trên các tiêu chí cụ thể. Luận văn đã tiến hành khảo sát và chỉ ra những điểm yếu cốt lõi. Cả cán bộ quản lý và học sinh đều đánh giá thấp các khía cạnh như "chất lượng công tác tuyển sinh", "quản lý nề nếp dạy học" và "kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo". Đáng chú ý, đội ngũ giáo viên dạy thực hành còn hạn chế về kỹ năng nghề (gần 42% chưa đạt chuẩn), và cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề ở nhiều nơi còn lạc hậu, chưa theo kịp công nghệ sản xuất thực tế. Đây là những minh chứng rõ ràng cho thấy hiệu quả đào tạo chưa đáp ứng được kỳ vọng.

2.3. Mất cân đối giữa đào tạo và thị trường lao động Hà Nội

Sự mất cân đối nghiêm trọng nhất là giữa ngành nghề đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động Hà Nội. Nhiều cơ sở đào tạo chạy theo các ngành "hot" như kế toán, tài chính, dẫn đến tình trạng thừa nhân lực. Trong khi đó, các nhóm ngành kỹ thuật cao, sản xuất, chế biến mà doanh nghiệp đang rất cần lại thiếu hụt lao động trầm trọng. Nguyên nhân chính là do thiếu hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực hiệu quả và sự liên kết nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, mang tính hình thức. Điều này gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm cơ hội việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

III. Phương pháp đổi mới quản lý đào tạo nghề từ cơ quan nhà nước

Để giải quyết những bất cập hiện tại, việc đổi mới quản lý đào tạo từ cấp vĩ mô là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp cho đào tạo nghề phải bắt nguồn từ việc hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách. Trước hết, cần xây dựng và ban hành đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật, tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất, minh bạch cho mọi hoạt động dạy nghề. Cần rà soát, sửa đổi các quy định không còn phù hợp, đặc biệt là các quy định liên quan đến chính sách đào tạo nghề, xã hội hóa giáo dục và cơ chế hợp tác công-tư. Quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp cần chuyển dịch trọng tâm từ quản lý đầu vào (tuyển sinh, chỉ tiêu) sang quản lý chất lượng đầu ra theo chuẩn năng lực nghề nghiệp. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội cần phát huy vai trò chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan để xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp một cách khoa học, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của thành phố. Đồng thời, cần thiết lập một hệ thống thông tin và dự báo thị trường lao động Hà Nội chính xác, làm cơ sở cho các trường điều chỉnh ngành nghề và chương trình đào tạo, đảm bảo đào tạo nghề gắn với việc làm.

3.1. Hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và hành lang pháp lý

Một hệ thống chính sách đào tạo nghề toàn diện là nền tảng cho sự phát triển. Cần có các chính sách ưu đãi cụ thể để thu hút đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm, các lĩnh vực công nghệ cao mà thị trường đang thiếu hụt. Chính sách đối với giáo viên và người học cũng cần được quan tâm, như chế độ đãi ngộ, hỗ trợ học phí cho các đối tượng chính sách, và các chương trình học bổng khuyến khích tài năng. Việc hoàn thiện Luật Dạy nghề và các văn bản dưới luật sẽ đảm bảo tính đồng bộ và hiệu lực thi hành trên thực tế.

3.2. Xây dựng cơ chế quản lý chất lượng và kiểm định hiệu quả

Chất lượng là yếu tố sống còn của giáo dục nghề nghiệp. Nhà nước cần xây dựng bộ tiêu chí và công cụ đánh giá hiệu quả đào tạo nghề một cách khoa học, khách quan. Hoạt động kiểm định chất lượng cần được thực hiện định kỳ và công khai kết quả để xã hội giám sát. Việc thành lập các tổ chức kiểm định độc lập, có uy tín sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo. Kết quả kiểm định phải là căn cứ để phân bổ đầu tư và cho phép tuyển sinh.

3.3. Tăng cường phân cấp quản lý và vai trò của địa phương

Việc tăng cường phân cấp quản lý là cần thiết để nâng cao tính chủ động và linh hoạt. Cần xác định rõ trách nhiệm của Tổng cục Dạy nghề trong việc ban hành chính sách vĩ mô, và vai trò của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội trong việc tổ chức thực hiện, giám sát và điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù địa phương. Trao quyền tự chủ trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đi đôi với trách nhiệm giải trình sẽ tạo động lực cho các trường đổi mới và phát triển.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục

Bên cạnh vai trò của nhà nước, sự chủ động của các trường cao đẳng nghề tại Hà Nội là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Bí quyết thành công nằm ở việc xây dựng một hệ sinh thái giáo dục mở, linh hoạt và gắn kết chặt chẽ với thực tiễn. Trọng tâm là phải đẩy mạnh liên kết nhà trường và doanh nghiệp. Mối liên kết này không chỉ dừng lại ở việc đưa sinh viên đi thực tập, mà phải sâu sắc hơn: doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, đánh giá năng lực sinh viên, và thậm chí đầu tư cơ sở vật chất, cử chuyên gia tham gia giảng dạy. Mô hình này đảm bảo chương trình đào tạo luôn cập nhật và đáp ứng đúng yêu cầu của nhà tuyển dụng. Thứ hai, các trường cần quyết liệt đổi mới quản lý đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực. Chương trình cần được thiết kế theo module, linh hoạt, chú trọng phát triển kỹ năng thực hành và các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp, giải quyết vấn đề. Việc áp dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong dạy nghề thông qua các phòng lab ảo, mô phỏng 3D, hệ thống e-learning sẽ giúp nâng cao trải nghiệm học tập và tiết kiệm chi phí. Cuối cùng, đầu tư phát triển đội ngũ giáo viên là ưu tiên hàng đầu, đảm bảo họ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn am hiểu thực tế sản xuất.

4.1. Đẩy mạnh liên kết nhà trường và doanh nghiệp hiệu quả

Để liên kết nhà trường và doanh nghiệp thực sự hiệu quả, cần xây dựng cơ chế hợp tác hai bên cùng có lợi. Nhà trường cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đã được đào tạo sát với yêu cầu. Doanh nghiệp hỗ trợ cơ sở vật chất, công nghệ mới và cam kết đầu ra cho sinh viên ưu tú. Việc thành lập các hội đồng tư vấn ngành gồm đại diện doanh nghiệp tại mỗi trường là một giải pháp thiết thực để đảm bảo chương trình đào tạo luôn bắt kịp xu thế thị trường lao động Hà Nội.

4.2. Áp dụng phương pháp đào tạo nghề gắn với việc làm thực tiễn

Phương pháp đào tạo nghề gắn với việc làm đòi hỏi phải tăng thời lượng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp. Các mô hình như "Học kỳ tại doanh nghiệp" hay "Đào tạo kép" (học lý thuyết tại trường, thực hành tại nhà máy) cần được nhân rộng. Việc tổ chức các kỳ thi tay nghề, các dự án thực tế cho sinh viên sẽ giúp các em cọ xát với môi trường làm việc chuyên nghiệp và tích lũy kinh nghiệm ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đảm bảo khả năng hòa nhập công việc ngay sau khi tốt nghiệp.

4.3. Phát triển đội ngũ giáo viên và cập nhật giáo trình mới

Giáo viên là hạt nhân của quá trình đổi mới. Các trường cần có chính sách khuyến khích giáo viên đi thực tế tại doanh nghiệp để cập nhật kiến thức, công nghệ. Song song đó, việc xây dựng và cập nhật liên tục hệ thống giáo trình theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là các nghề trọng điểm, là yêu cầu bắt buộc. Giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức mà còn phải rèn luyện kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của một nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập.

V. Hướng đi tương lai cho quản lý đào tạo nghề tại Thủ đô

Định hướng phát triển và quản lý đào tạo nghề tại Hà Nội trong tương lai cần bám sát các xu thế lớn của thế giới và khu vực, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Tầm nhìn đến năm 2030 là xây dựng một hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt và hiệu quả, có khả năng đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường lao động Hà Nội và quốc tế. Một trong những hướng đi trọng tâm là đẩy mạnh chuyển đổi số trong dạy nghề. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, và Internet vạn vật vào giảng dạy và quản lý sẽ tạo ra bước đột phá về chất lượng và hiệu quả. Các mô hình đào tạo trực tuyến, đào tạo cá nhân hóa theo lộ trình riêng sẽ ngày càng phổ biến. Bên cạnh đó, việc tăng cường tự chủ trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là xu thế tất yếu. Khi được tự chủ về tài chính, nhân sự và học thuật, các trường sẽ có động lực để đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, tự chủ phải đi kèm với trách nhiệm giải trình minh bạch trước xã hội. Cuối cùng, công tác hướng nghiệp cần được đầu tư bài bản ngay từ bậc phổ thông để giúp học sinh có định hướng rõ ràng, lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực và đam mê, góp phần phân luồng hiệu quả và tối ưu hóa nguồn lực cho hệ thống đào tạo.

5.1. Tầm nhìn đến 2030 và xu hướng chuyển đổi số trong dạy nghề

Tầm nhìn đến năm 2030 là các trường cao đẳng nghề tại Hà Nội sẽ trở thành những trung tâm đào tạo xuất sắc, tiếp cận trình độ của khu vực ASEAN. Xu hướng chuyển đổi số trong dạy nghề sẽ là động lực chính, với việc phát triển các nền tảng học tập số, thư viện điện tử, và các phòng thí nghiệm ảo. Điều này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận công nghệ mới mà còn tạo ra một môi trường học tập không giới hạn về không gian và thời gian, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người lao động.

5.2. Nâng cao quyền tự chủ trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Trao quyền tự chủ trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là một giải pháp đột phá. Khi tự chủ, các trường có thể linh hoạt trong việc mở ngành đào tạo mới, xây dựng chương trình tiên tiến, và hợp tác quốc tế. Cơ chế này sẽ thúc đẩy các trường phải năng động hơn trong việc tìm kiếm nguồn thu, liên kết nhà trường và doanh nghiệp, và nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút người học. Nhà nước sẽ chuyển từ vai trò quản lý trực tiếp sang kiến tạo môi trường, giám sát và hậu kiểm.

5.3. Vai trò của công tác hướng nghiệp trong định hình tương lai

Một công tác hướng nghiệp hiệu quả là chìa khóa để giải quyết bài toán mất cân đối cung - cầu lao động. Cần xây dựng một hệ thống tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp, kết nối giữa trường phổ thông, trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp. Việc cung cấp thông tin đầy đủ về thị trường lao động Hà Nội, xu hướng ngành nghề và yêu cầu công việc sẽ giúp học sinh và phụ huynh có cái nhìn đúng đắn về giá trị của học nghề, từ đó đưa ra lựa chọn sáng suốt cho tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đào tạo nghề trong các trường cao đẳng nghề tại hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về đào tạo nghề. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng QLNN tại các trƣờng cao đẳng nghề tại Hà Nội. Chƣơng 3: Định hƣớng, quan điểm và các giải pháp nâng cao quản lý nhà nƣớc đối với các trƣờng cao đẳng nghề. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LĨNH VỰC DẠY NGHỀ 1.

Các vấn đề chung về Dạy nghề 1. Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố tác động đến dạy nghề 1. Khái niệm dạy nghề Từ trƣớc đến nay, có rất nhiều các khái niệm về dạy nghề đã đƣớc đƣa ra trong các công trình nghiên cứu: - Theo Cac _ Mac, công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: Một là: giáo dục trí tuệ; Hai là: Giáo dục thể lực nhƣ trong các trƣờng Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; Ba là: dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm đƣợc vững những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất. - Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO) đƣa ra khái niệm: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp đƣợc giao.

( 29, trang 24) - Theo tài liệu của bộ LĐTB và XH xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo nghề đƣợc hiểu: “ Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho ngƣời lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để ngƣời lao động sau khi hoàn thành khóa học hành đƣợc một nghề trong xã hội. - Theo điều 5, luật Dạy nghề đƣợc Quốc hội khóa XI, kỳ họp 10 thông qua ngày 29/11/ 2006, thì: “ Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Từ các quan niệm, khái niệm nêu luận trên, theo cách tiếp cận cuả luận văn, khái niệm dạy nghề đƣợc hiểu nhƣ sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dạy nghề là hoạt động dạy và học mang định hƣớng thực hành cao, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Đặc điểm của dạy nghề Dạy nghề là một hoạt động đào tạo mang tính đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đạo tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: - Dạy nghề gắn chặt với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, với nhu cầu của xã hội, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trƣờng.

Nội dung thực hành chiếm hơn 70% khối lƣợng chƣơng trình. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành tƣơng xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỹ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp cos khả năng tìm đƣợc việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để ngƣời học trở thành ngƣời lao động trong các doanh nghiệp. - Nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy trong dạy nghề cũng có những nét riêng.

Đây là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, đòi hỏi ngƣời học phải đạt trình độ kỹ năng nghề, cố hiểu biết cần thiết và phù hợp để làm đƣợc những công việc phức tạp ở mức độ nhất định, nhất là về kỹ thuật và công nghệ; đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thực tế sản xuất kinh odanh. Vì vậy, tỷ lệ thực hành trong dạy nghề thƣờng chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90 – 100%. Không chỉ vậy, các trƣờng dạy nghề còn phải thƣởng xuyên cử cán bộ giáo viên đi tìm hiểu và học tập những trang thiết bị hiện đại và đầu tƣ mua những trang thiết bị đó để sinh viên có thể tiếp cận; tạo 1 nền tảng kiến thức vững chắc giúp sinh viên dễ dàng làm việc trong môi trƣờng thực tế. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đối tƣợng học nghề rất đa dạng và phong phú.

Bất cứ ai, có đủ sức khỏe và điều kiện vật chất, tinh thần và mong muốn biết 1 nghề nào đó đều có thể đăng ký học nghề. Trên thực tế, đối tƣợng học nghề thƣờng là những ngƣời trƣởng thành, thậm chí là lớn tuổi. - Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: + Dạy nghề dài hạn: Đào tạo đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật một cách bài bản, theo chƣơng trình chuẩn, thời gian đào tạo 1- 3 năm, tùy theo đặc điểm, độ phức tạp của nghề, hoàn thành khóa học đƣợc cấp bằng nghề với hai trình độ cơ bản là trung cấp nghề và cao đẳng nghề. + Dạy nghề ngắn hạn: Đào tạo cho ngƣời học nghề theo chƣơng trình ngắn hạn, thời gian dƣới 1 năm, hoàn thành khóa học đƣợc cấp chứng chỉ nghề, trình độ đào tạo là sơ cấp nghề.

+ Dạy nghề kèm cặp: Dạy nghề ngay trong quá trình sản xuất, ngƣời học vừa học vừa làm dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của ngƣời có kinh nghiệm, kỹ năng hơn mình. + Dạy nghề lƣu động: Cơ sở dạy nghề mang thiết bị , tài kiệu hƣớng dẫn và giáo viên trực tiếp nơi có đông ngƣời học để giảng dạy (chủ yếu áp dụng trong dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn). Các nhân tố tác động tới dạy nghề: - Khoa học - Công nghệ: Bƣớc vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với những bƣớc phát triển với những bƣớc tiến nhảy vọt, trở thành động lực, đầu tàu của sự phát triển kinh tế xã hội, kéo theo những biến đổi đột biến, mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời đại xã hội loài ngƣời đang chuyển sang nền kinh tế tri thức. Cách mạng khoa học đƣa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin, trong đó các ngành sản xuất, dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ.

Khoảng cách giữa phát minh khoa học, công nghệ và áp dụng vào thực tế ngày càng thu hẹp. Cách mạng khoa học công nghệ làm cho nhiều ngành, nghề cũ mất đi và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành, nghề và tỷ trọng của nó trong các lĩnh vực kinh tế cũng thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực dich vụ. Trong điều kiện mới, sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực con ngƣời là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất trƣớc đây. Tỷ trọng lao động trực tiếp giảm mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh, xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công nhân tri thức.

Từ đó, các quốc gia muốn phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tƣ hƣớng vào phát triển vốn con ngƣời nhằm làm cho nguồn nhân lực nhanh chóng đƣợc tri thức hóa, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thích nghi cao, thích ứng kịp thời với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất, kinh doanh. Việt Nam là quốc gia đang phát triển ở trình độ thấp nhƣng yếu tố khoa học – công nghệ đang tác động mạnh đến dạy nghề, nhất là khi chúng ta phát triển các kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nếu chúng ta không tập trung vào dạy nghề sẽ đến hậu quả không đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật lành nghề cung ứng cho nền kinh tế quốc dân. - Xu hƣớng toàn cầu hóa – hội nhập Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tác mạnh đến dạy nghề theo hai hƣớng cơ bản là đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và cảu quốc gia trong quá trình hội nhập và đảm bảo nguồn lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.

+ Ở hƣớng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia, thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động, kỹ thuật trình độ cao, có khả năng tiếp thu nhanh, sáng tạo và làm chủ công nghệ, khả năng chuyển đổi linh hoạt; tính chịu trách nhiệm, khả năng nắm bắt và giao tiếp khách hàng; khả năng làm việc nhóm, làm việc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong môi trƣờng đa văn hóa, đa dân tộc, đa tôn giáo. là những yếu tố có tính chất quyết định. Đó là những yếu tố có tính chất quyết định. Đó là những yêu cầu mới về chuẩn mực chất lƣợng nguồn lao động kỹ thuật bảo đảm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

+ Hƣớng thứ hai rất quan trọng tác động đến dạy nghề là đáp ứng yêu cầu lao động kỹ thuật của thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế. Việt Nam trong xu thế hội nhập có nhiều cơ hội tạo việc làm mới trong các khu vực: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), doanh nghiệp sản xuất và gia công xuất khẩu với công nghệ sử dụng lao động: lao động xuất khẩu và chuyên gia. Xuất khẩu và chuyên gia cũng là hƣớng mũi nhọn tạo việc làm và tham gia vào thị trƣờng lao động quốc tế và khu vực của Việt Nam. Tuy nhiên, xu hƣớng xuất khẩu lao động trong thời gian tới sẽ chủ yếu là lao động có nghề và chuyên môn kỹ thuật.

Bởi vậy, chuẩn bị nguồn cho xuất khẩu lao động đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng quốc tế là rất cần thiết. - Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các ngành, nghề mới, các khu vực kinh tế động lực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ