phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách và thực hiện chính sách về xây dựng nông thôn mới. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện U Minh Thƣợng, tỉnh Kiên Giang. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp tiếp tục thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện U Minh Thƣợng, tỉnh Kiên Giang. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Những vấn đề chung về chính sách 1.1 Khái niệm Chính sách là một công cụ quan trọng của quản lí.
Mọi tổ chức, mọi cấp quản lí đều phải sử dụng các công cụ quản lí nhƣ chiến lƣợc , kế hoạch, chính sách và quyết định quản lí để tác động lên đối tƣợng quản lí theo một cách thức nào đó nhằm đạt mục tiêu mong muốn. Hiểu một cách đơn giản chính sách là một chƣơng trình hành động do các nhà quản lí đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó. Một số chính sách đƣợc đề ra và thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp, một tổ chức, một cộng đồng nhỏ, các chính sách nhƣ vậy chỉ liên quan đến một số ít ngƣời. Các chính sách khác có thể do chính phủ, một bộ đề ra có liên quan đến lợi ích rộng lớn hơn.
Nhìn chung có thể coi chính sách là một công cụ của quản lí để đều hành các hoạt động kinh tế xã hội theo những mục tiêu nhất định. Vậy, chính sách là một tập hợp các chủ trƣơng và hành động về phƣơng diện nào đó của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt đƣợc và cách làm để thực hiên các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên cá lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, môi trƣờng. Chính sách phát triển nông thôn là tâp hợp các chủ trƣơng và hành động của chính phủ nhằm tạo cho nông thôn phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào nhƣ: đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng…Tác động tới đầu vào và đầu ra ở nông thôn, tác động về việc thây đổi tổ chức.
Trong đó thị trƣờng đầ vào và đầu ra đƣợc thực hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ. 9 Ở đây chúng ta đi sâu nghiên cứu về các chính sách có tác động đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều ngƣời, đó là chính sách công mà cụ thể là chính sách xây dựng nông thôn mới. Đây là nhƣng chính sách do nhà nƣớc đề ra có phạm vi tác động rộng lớn đến đời sống chính trị , kinh tế, xã hội trên phạm vi quốc gia, vùng, miền… 1.2 Đăc điểm của chính sách Chính sách có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất: Chính sách mang tính cộng đồng Chính sách mang tính cộng đồng là đo chính sách bắt nguồn từ ý chí chính trị của nhà nƣớc đƣợc thể hiện dƣới dạng thể chế bằng văn bản quy phạm pháp luật. Ý chí chính trị của mỗi nhà nƣớc đều đƣợc xác lập trên cơ sở mục tiêu phát triển chung toàn xã hội mà nhà nƣớc là ngƣời có trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Thứ hai: Chính sách mang tính hệ thống, đồng bộ Về mặt hình thức, tính hệ thống của chính sách thể hiện là những tập hợp các quyết định hình thành trong những giai đoạn khác nhau vƣợt ra ngoài giai đoạn hoạch định chính sách ban đầu. Ở cấp hoạch định, chính sách cũng không nhất thiết, thể hiện rõ ràng trong một quyết định duy nhất. Mà có thể đƣợc phản ảnh trong một chuỗi các quyết định có liên hệ với nhau, giúp chúng ta nhận thức đƣợc nội hàm của chính sách. Về mặt nội dung, tính hệ thống của chính sách bao hàm sự thống nhất giữa các mục tiêu và biện pháp thực hiện trong mỗi loại chính sách.
Ngoài ra giữa các loại chính sách và giữa chính sách và công cụ quản lí vĩ mô khác nhau cũng hợp thành một hệ thống hƣớng đến mục tiêu phát triển chung toàn xã hội. Thứ ba: Chính sách mang tính ổn tƣơng đối Về mặt lý thuyết, nội dung chính sách về mặt cơ bản là ổn định trong một giai đoạn nhất định. Bởi chính sách là kết quả của ý chí chính trị của nhà 10 nƣớc nên nó không dễ gì thay đổi. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta cũng có thể thấy chính sách công có sự thay đổi theo thời gian.
Vì trong quá trình tồn tại chính sách vẫn cần đƣợc điều chỉnh về mục tiêu hay biện pháp cho phù hợp với điều kiện thực tế, hoặc do những thay đổi trong định hƣớng chính trị ban đầu, hoặc kinh nghiệm về thực thi chính sách có thể đƣợc phản hồi vào quá trình ra quyết định chính sách. Điều này không có nghĩa là các chính sách luôn thay đổi , mà do quá trình thực thi chính sách luôn năng động, thích ứng. Ngay cả nhận thức chính trị về các vấn đề chính sách cũng thay đổi qua các thời kỳ. Thứ tƣ: Chính sách vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý Nhà nƣớc vừa là công cụ thực hiện chức năng quản lý xã hội Nhìn một cách thực chất, về cơ bản chính sách đƣợc xem là đầu ra của quá trình quản lý Nhà nƣớc, là sản phẩm trí tuệ của đội ngủ cán bộ, công chức, thậm chí là sản phẩm chung của xã hội.
Về đặc điểm này có thể nhận biết qua việc chấp nhận mục tiêu và các biện pháp thực thi chính sách của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, cũng nhƣ kết quả triển khai thực hiện những chính sách này. Từ chỗ nhận thức đƣợc “ chính sách là sản phẩm của hoạt động quản lý Nhà nƣớc”. ngƣời dân có thể đánh giá đƣợc kết quả hoạt động của chính phủ qua chất lƣợng của chính sách. Nếu mục tiêu chính sách do Nhà nƣớc đề xuất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân thì mới dễ dàng đi vào cuộc sống.
Còn ngƣợc lại một chính sách có mục tiêu không rõ ràng, không cụ thể, không vì lợi ích của cộng đồng dân cƣ thì khó chấp nhận hoặc tính khả thi không cao. Các biện pháp đề xuất trong chính sách thích hợp sẽ đƣợc ứng dụng rộng rãi, tạo ra động lực mạnh trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực phát huy nội lực, tìm kiếm các nguồn lực bên ngoài vào thực hiện mục tiêu một cách có hiệu quả. Việc duy trì chính sách ra sao cũng phản ánh trình độ quản lý, điều hành, phối hợp các quá trình kinh tế - xã hội của quốc gia. Nhƣ vậy việc triển 11 khai thực hiện chính sách cũng là thƣớc đo giá trị để đánh gá kết quả quản lý xã hội của bộ máy Nhà nƣớc 1.3 Các loại chính sách Trƣớc nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế, thời gian qua nhiều chính sách đƣợc ban hành tạo khung pháp lý cho các hoạt động kinh tế xã hội.
Có nhiều loại chính sách trong đó có các loại nhƣ: - Chính sách đối ngoại của Nhà nƣớc: Là những chủ trƣơng, chính sách mang tính đối ngoại của quốc gia - Chính sách kinh tế: Là chính sách phát triển các ngành kinh tế - Chính sách xã hội: Là chính sách ƣu đãi, trợ giúp cho một số tầng lớp của xã hội nhất định nhƣ chính sách đối với công tác giáo dục ở vùng cao, vùng sâu, chính sách xã hội đối với thƣơng binh, liệt sĩ… Trong các loại chính sách chung thì có các loại chính sách đối với từng lĩnh vực. Ví dụ: Trong chính sách kinh tế có các chính sách mậu dịch tự do, chính sách bảo hộ thuế quan, chính sách tài chính, trong chính sách xã hội thì có chính sách dân tộc. Tóm lại có nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, chính sách cụ thể tùy thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế xã hội Ở góc độ đề tài của luận văn chỉ nghiên cứu đến các chính sách nghiên cứu xã hội về xây dựng nông thôn mới 1.2 Nông thôn và Nông thôn mới 1.1 Khái niệm nông thôn Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau, chƣa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng dựa vào các chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ phát triển thấp hơn và khả năng 12 tiếp cận thị trƣờng so với đô thị là thấp hơn.
cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cƣ với số lƣợng dân trong vùng để xác định. Theo quan điểm này vùng nông thôn có quy mô dân số và mật độ thấp hơn vùng đô thị. Một quan điểm khác lại nêu ra vùng nông thôn là vùng có dân cƣ làm nông nghiệp chủ yếu, số đông ngƣời dân trong vùng bằng chính nghề sản xuất nông nghiệp, những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng quốc gia, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho nến kinh tế, đối với những nƣớc đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành phát triển công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thì từ rải rác các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trƣớc đây. Các khái niệm trƣớc đây đã cho thấy một điều rằng khái niệm nông thông dƣờng nhƣ đƣợc quan tâm một cách khiêm tốn hơn so với khái niệm về đô thị vì cách nhình nhận về nông thôn luôn đi theo những xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đƣa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn.
Ở Việt Nam, theo Thông tƣ 41/2013 /TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013 của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nêu khái niệm "nông thôn là một phần lãnh thổ đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã, nông thôn là tên gọi chung của thôn, làng, xóm, ấp, bản, buôn, phum, sóc,. là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cƣ có chung địa bàn cƣ trú trong một xã.