Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi bảo hiểm xã hội. Chương 2: Thực trạng quản lý chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. 8 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Một số lý luận cơ bản về quản lý chi bảo hiểm xã hội 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm xã hội BHXH ra đ i vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu. Có thể nói, BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đ i khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới.
Trong cuộc sống hàng ngày, con ngư i không thể tránh khỏi những rủi ro như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động… Trong những trư ng hợp đó nếu không có thu nhập, ngư i lao động có thể không đủ khả năng tự phục vụ bản thân mình. Để giảm bớt và vượt qua những khó khăn, con ngư i cần có những biện pháp phòng ngừa. Và BHXH ra đ i với bản chất là bảo hiểm cho thu nhập của những ngư i tham gia BHXH đã tạo niềm tin cho ngư i lao động, giúp họ yên tâm sản xuất, góp phần ổn định thu nhập cho bản thân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng đều mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực.
Trước hết, bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho ngư i tham gia trước những tổn thất do rủi ro gây ra, đề phòng và hạn chế tổn thất giúp cho cuộc sống của con ngư i an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, làm giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, góp phần ổn định chi tiêu NSNN. Từ sự cần thiết về BHXH ngư i ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất mà chủ yếu theo quan niệm của từng nước. Theo tổ chức lao động thế giới ILO: BHXH là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trư ng hợp ốm đau, tai nạn, thương 9 tật, già yếu, thất nghiệp đồng th i chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đ i sống của các thành viên và đảm bảo an toàn xã hội. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
[22, tr2] Ở góc độ tài chính, BHXH được hiểu là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự phòng của cộng đồng những ngư i lao động, có sự bảo trợ của Nhà nước, để san sẻ rủ ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trư ng hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. Ở góc độ pháp lý, BHXH là một chế độ pháp lý quy định đối tượng, điều kiện, mức độ đảm bảo vật chất và các dịch vụ cần thiết để bảo vệ ngư i lao động và gia đình họ trong các trư ng hợp bảo hiểm được Nhà nước xác định. Từ các khái niệm trên có thể khái quát như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngư i lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu nhập hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đ i sống của ngư i lao động và gia đình họ, đồng th i góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Như vậy, xuất phát từ nhu cầu của ngư i lao động, BHXH đã trở thành chính sách xã hội quan trọng của nước ta và hầu hết các nước trên thế giới.
BHXH trở thành phương thức dự phòng để khắc phục hậu quả rủi ro, đảm bảo an toàn xã hội và tạo động lực để phát triển kinh tế. Khái niệm chi bảo hiểm xã hội Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi trả cho các chế độ BHXH nhằm ổn định cuộc sống của ngư i tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH. Là quá trình phân phối các nguồn tài chính đã được tập 10 trung vào quỹ BHXH theo từng mục đích sử dụng nhất định. Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình: Phân phối và sử dụng quỹ BHXH.
- Phân phối quỹ BHXH là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để hình thành các quỹ thành phần như: Quỹ hưu trí, tử tuất; quỹ ốm đau, thai sản; quỹ TNLĐ – BNN hoặc phân bổ cho các mục đích sử dụng khác nhau như: Quỹ đầu tư phát triển; quỹ chi trả các chế độ BHXH. - Sử dụng quỹ BHXH là quá trình chi tiền của quỹ BHXH đến tay đối tượng được thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể. Phân phối và sử dụng quỹ BHXH là hai phạm trù khác nhau, nhưng trong thực tế, hai quá trình này thư ng đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có những trư ng hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trình này theo thứ tự trước sau.
Ví dụ: Hoạt động bảo tồn và tăng trưởng quỹ đòi hỏi phải kết thúc quá trình phân phối quỹ, quỹ phải phân phối đủ cho mục đích chi trả các chế độ BHXH, số còn lại mới phân phối vào quỹ bảo tồn tăng trưởng. Quá trình chi BHXH phải đảm bảo đúng nguyên tắc chi đúng, chi đủ, chi kịp th i theo đúng quy định mà các văn bản hướng dẫn chi các chế độ BHXH do Nhà nước ban hành. Bảo hiểm xã hội thực hiện chi cho các chế độ sau đây: - Ốm đau là chế độ trợ cấp bằng tiền nhằm thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm, giúp cho ngư i lao động trang trải cho các chi tiêu khi ốm đau phải nghỉ việc mà không được nhận lương. - Thai sản là chế độ trợ cấp bằng tiền nhằm thay thế hoặc bù đắp những khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất trong các trư ng hợp ngư i lao động nghỉ việc để đi khám thai, sinh con, nuôi con, thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, sảy thai, điều hoà kinh nguyệt, nạo hút thai, thai chết lưu.
- Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN) là chế độ trợ cấp bằng tiền một lần hoặc hàng tháng cho đối tượng bị TNLĐ-BNN, nhằm đảm bảo quyền lợi và ổn định cuộc sống cho ngư i lao động khi họ bị TNLĐ-BNN dẫn đến suy giảm khả năng lao động. 11 - Hưu trí là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm trợ cấp phần thu nhập bị mất cho ngư i lao động khi đã kết thúc quá trình lao động để đảm bảo đ i sống cho ngư i lao động và gia đình họ. - Tử tuất là chế độ dành cho thân nhân của ngư i lao động có tham gia đóng phí bảo hiểm xã hội khi ngư i lao động này chết đi, nhằm giúp cho thân nhân lo liệu mai táng (mai táng phí) và ổn định cuộc sống (trợ cấp tuất). Khái niệm về quản lý và quản lý hoạt động chi bảo hiểm xã hội Khái niệm quản lý: Quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trư ng.
Tùy theo yêu cầu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý ở những chừng mực nhất định. Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì chủ thể quản lý đó là bộ máy quản lý nhà nước, thống nhất từ trung ương đến địa phương, thực hiện quản lý trên mọi mặt của đ i sống kinh tế, văn hóa, xã hội,. Đối tượng bị quản lý (đối tượng quản lý) là con ngư i và cộng đồng ngư i đang và sẽ tham gia vào các quan hệ xã hội, mà trong đó quan hệ kinh tế được nổi lên như là một vấn đề chủ yếu của quản lý. Theo tác giả Đoàn Thị Thu Hà: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được những mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
[20, tr7] Quan hệ quản lý không những mang tính chất kinh tế mà còn có tính tổ chức, tính chất tâm lý xã hội. Tính đa diện đó của quản lý kinh tế quy định tính tổng hợp, tính liên ngành, liên bộ phận của bất kỳ cơ cấu tổ chức nào. Khái niệm quản lý hoạt động chi bảo hiểm xã hội: Quản lý diễn ra trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con ngư i khi có nhiều ngư i liên kết, hợp tác với nhau, diễn ra trên nhiều cấp độ khác nhau. Đối với 12 hoạt động BHXH, quản lý chi BHXH là các hoạt động có tổ chức, theo quy định của pháp luật để thực hiện công tác chi trả các chế độ BHXH.
Các hoạt động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu chi đúng đối tượng, chi đủ số lượng, chi kịp th i hay đó là đảm bảo tiến tới đến tận tay đối tượng thụ hưởng đúng th i gian quy định.