Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã. Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Một số vấn đề lý luận về công chức cấp xã 1. Khái niệm cấp xã và chính quyền cấp xã 1. uan niệm cấp xã Luật tổ chức chính quyền địa phương được uốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua xác định các đơn vị hành chính gồm có tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (cấp huyện); xã, phường, thị trấn (cấp xã) và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (Điều 2). Cấp xã được coi là cấp thấp nhất trong hệ thống đơn vị hành chính ở Việt Nam.
Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã được dùng để chỉ toàn bộ các đơn vị hành chính cấp cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn. Xã là nơi diễn ra cuộc sống của dân, là nơi chính quyền và các đoàn thể tổ chức, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình. Nếu dân chủ là dân làm chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì xã là nơi thể hiện rõ nhất và trực tiếp nhất ý thức, năng lực dân chủ của dân b ng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Chế độ ủy quyền và những phương tiện, những điều kiện nh m thực hiện và đảm bảo cho sự ủy quyền đó phải được bắt đầu từ xã mà nhân dân là chủ.
Bao nhiêu quyền hành đều là của dân, bao nhiêu lợi ích cũng thuộc về dân. uyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Dân có quyền làm chủ, đồng thời có nghĩa vụ của người chủ. Do ở xã là nơi làm việc và sinh 12 hoạt hàng ngày của dân chúng, là nơi thể chế được dân trực tiếp tổ chức nên và dân thường xuyên tiếp xúc, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với người đại diện cho mình, đồng thời dân cũng có điều kiện biết rõ hoạt động của thể chế của con người và tổ chức bộ máy, mặt hay cũng như mặt dỡ, mặt tốt cũng như mặt xấu với những khuyết tật của nó… nên quan hệ và thái độ của dân đối với thể chế ở xã cho thấy rõ nhất hiện trạng của thể chế nói chung.
Động lực, nội lực của sự phát triển hay vật cản kiềm hãm, sự trì trệ và suy thoái được nhận thấy rõ nhất ngay tại xã. Những yếu kém diễn ra trong thể chế ở xã làm tổn hại đến uy tín và ảnh hưởng xã hội của thể chế nói chung. Những phản ứng bất bình của dân đối với cán bộ, công chức xã, là khởi đầu cho những mất ổn định, thẩm chí trở thành tình huống, thành điểm nóng gây hại tới sự bình yên của chế độ. Do vậy, mấu chốt của xã là chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã, là hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sao cho giữ được dân, làm cho dân yên ổn, phấn đấu làm ăn, sinh sống, liên kết cộng đồng, quan tâm và bảo vệ thể chế, phát triển xã hội, phát triển sức dân.
Vì vậy, xã là đơn vị hành chính cấp thấp nhất được tổ chức ở khu vực nông thôn, tương đương với đơn vị hành chính cấp phường, thị trấn, nhưng lại là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội. Khái niệm chính quyền cấp xã Trên cơ sở Hiến pháp năm 2 13, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2 15 quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức ở các đơn vị hành chính. Như vậy, chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Chính quyền cấp xã hiện nay được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính xã thuộc huyện trên cả nước.
Theo số liệu công bố của 13 Tổng cục thống kê, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2 13 cả nước có 11.161 đơn vị hành chính cấp xã và tương đương, với tổng số 227.253 cán bộ, công chức cấp xã bao gồm: 1.545 phường, 615 thị trấn và 9001 xã. Riêng tỉnh Kiên Giang tổng cộng có 145 đơn vị cấp xã gồm 12 thị trấn, 15 phường và 118 xã, công chức xã có 1. Như vậy, trong số những đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nước ta thì đơn vị xã chiếm số lượng lớn nhất. Số lượng xã, phường, thị trấn trong những năm qua không ổn định.
Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành lập các xã, phường, thị trấn diễn ra hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chính quyền xã là cấp hành chính Nhà nước gần dân và trực tiếp giải quyết các mối quan hệ xã hội, đồng thời là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt hay hạn chế của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi”.
Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền xã ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Xuất phát từ vị trí của cấp xã trong hệ thống chính trị cơ sở, chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân. Có thể nói, chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước - chính quyền cấp xã nói chung, UBND xã nói riêng là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống.
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân dân. Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi 14 người dân tìm đến đầu tiên chính là UBND xã. Chính quyền cấp xã cũng là nơi trực tiếp đưa ra các giải pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải quyết những yêu cầu chính đáng của người dân, tạo điều kiện cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và cộng đồng. Chính quyền cấp xã là nơi quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch vụ công phục vụ nhân dân và bộ máy nhà nước. Từ đó, chính quyền cấp xã giúp cho cơ quan nhà nước cấp trên có những căn cứ để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội sát với yêu cầu của thực tế cuộc sống. Chính quyền cấp xã là nơi nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương để kịp thời phản ánh với cơ quan nhà nước cấp trên, giúp nhà nước đề ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương. Thực tế cho thấy ở một số địa phương, nếu không đi sâu sát nắm bắt nguyện vọng của nhân dân sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, phá vỡ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Chính quyền cấp xã là bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở. Tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước cấp trên cuối cùng đều phải thông qua vai trò của hệ thống chính quyền cấp xã và nếu không có chính quyền cơ sở vững mạnh, các tổ chức chính quyền cấp trên khó có thể phát huy tác dụng. Các mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước thể hiện trước hết và trực tiếp thông qua quan hệ với chính quyền cấp xã. Sức mạnh của hệ thống chính trị được chứng minh qua sức mạnh của chính quyền cơ sở.
Cơ sở và chính quyền cơ sở là yếu tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng. Khái niệm về công chức cấp xã 1. Khái niệm về công chức Để quản trị đất nước, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình một đội ngũ công chức và không ngừng chăm lo bồi dưỡng cho họ để nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền công vụ. Cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
Tùy thuộc vào điều kiện lịch s , kinh tế, chính trị, xã hội và cơ cấu bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia mà khái niệm công chức ở các nước cũng khác nhau. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước, được đề cập đầu tiên tại Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành “ uy chế công chức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Trải qua các thời kỳ lịch s , thuật ngữ công chức được s dụng trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước nhưng chưa có sự phân định rõ ràng công chức với cán bộ, viên chức.