Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO TRÌ CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bảo trì các công trình giao thông đường bộ 1. Hoạt động bảo trì các công trình giao thông đường bộ 1. Công trình giao thông đường bộ Giao thông đường bộ là một hệ thống bao gồm các phương tiện và người tham gia giao thông đường bộ, vận tải, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các quy tắc nhất định, bộ máy quản lý Nhà nước về giao thông đường bộ.
Các bộ phận này hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau và cũng tác động tới các bộ phận khác của nền kinh tế. Giao thông đường bộ phân bố rộng khắp trên tất cả các vùng miền của các quốc gia và vùng lãnh thổ do nó có vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông, kết nối giữa các vùng miền khác nhau. Trình độ phát triển của giao thông đường bộ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu phát triển kinh tế sẽ kích thích sự phát triển và tạo ra tiền đề về vật chất, tài chính cho sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ. Sau đó, sự phát triển của giao thông đường bộ tác động trở lại kích thích sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm công trình giao thông đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ nhằm phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ (Chính phủ, 1999). Theo luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 do Quốc hội ban hành, công trình giao thông đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác. Đặc điểm của các công trình giao thông đường bộ: - Các công trình giao thông đường bộ đều là sản phẩm từ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản nên nó được định vị tại một vị trí cố định, nơi sản xuất cũng là nơi tiêu 6 thụ. Chất lượng của công trình cũng như hiệu quả của công trình trong quá trình khai thác phụ thuộc trực tiếp vào các điều kiện tự nhiên như địa chất, thủy văn, khí hậu, các điều kiện về mặt xã hội,.
- Các công trình giao thông đường bộ đều là các sản phẩm được đầu tư xây dựng có quy mô vốn lớn, kết cấu phức tạp, chu kỳ sản xuất dài, không gian để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản công trình giao thông đường bộ trải dài trên phạm vị rộng nên việc quản lý khá nhiều khó khăn. - Công trình giao thông đường bộ có thời gian sử dụng lâu dài, phục vụ cho trung hạn và dài hạn. Từ khi công trình xây dựng hoàn thành và đi vào sử dụng, chất lượng công trình đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả của việc khai thác và sử dụng công trình trong suốt một khoảng thời gian dài. - Công trình giao thông đường bộ là sản phẩm có tính chất đơn chiếc, mỗi công trình đều có yêu cầu và mục đích sử dụng riêng của chủ đầu tư và những yêu cầu riêng về kỹ thuật, công nghệ, mức độ an toàn, cảnh quan.
vì thế, trong quá trình bảo trì phải căn cứ vào các tiêu chuẩn này để có kế hoạch thực hiện phù hợp với từng công trình. Có nhiều cách để phân loại công trình đường bộ khác nhau như: (i) phân loại theo cấp quản lý; (ii) phân loại theo nguồn vốn đầu tư. (i) Phân loại theo cấp quản lý (Chính phủ, 1999): - Công trình đường bộ thuộc quản lý trung ương (Bộ giao thông Vận tải thống nhất quản lý nhà nước về đường bộ trong phạm vi cả nước, trực tiếp quản lý hệ thống Quốc lộ. Tổng cục đường bộ Việt Nam trực tiếp quản lý các đoạn tuyến quốc lộ và giao cho UBND tỉnh quản lý một số đoạn tuyến) bao gồm hệ thống đường quốc lộ và các công trình phụ trợ đi kèm trên tuyến.
- Hệ thống đường tỉnh (UBND tỉnh quản lý các hệ thống đường bộ địa phương; trực tiếp quản lý các hệ thống đường tỉnh, đường đô thị. Sở giao thông Vận tải trực tiếp quản lý các đoạn tuyến quốc lộ mà Bộ GTVT đã giao cho UBND tỉnh) là các đường trục chính trong địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. - Hệ thống đường huyện (UBND huyện quản lý) là các đường nối từ trung tâm hành chính huyện tới trung tâm hành chính xã hoặc các cụm của các xã của một huyện và các đường nối trung tâm hành chính huyện với trung tâm hành chính các huyện lân cận. 7 - Hệ thống đường xã (UBND xã quản lý) là đường nối từ trung tâm hành chính xã đến các thôn, xóm hoặc đường nối các xã với nhau nhằm phục vụ giao thông công cộng trong phạm vi xã.
- Hệ thống công trình giao thông đường đô thị - Hệ thống công trình giao thông đường chuyên dùng. (ii) Phân loại theo nguồn vốn đầu tư Vốn đầu tư đường bộ gồm:vốn đầu tư xây dựng mới, khôi phục, cải tạo và nâng cấp đường bộ; vốn quản lý và sửa chữa đường bộ, và được bố trí từ các nguồn vốn khác nhau cụ thể: - Đối với hệ thống quốc lộ được bố trí từ nguồn ngân sách Trung ương và từ các nguồn vốn khác. - Đối với đường tỉnh, đường huyện được bố trí chủ yếu từ nguồn vốn của ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác. - Đối với đường xã chủ yếu huy động từ sự đóng góp tài lực của nhân dân địa phương, của ngân sách xã và một phần hỗ trợ của phần ngân sách cấp trên và các nguồn vốn khác.Bảo trì các công trình giao thông đường bộ a) Khái niệm: Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bảo trì.
Theo AFNOR (Pháp), bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ xác định. Theo BS 3811 (Anh)- 1984, bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị nhằm giữ cho thiết bị luôn ở, hoặc phục hồi nó về một tình trạng trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu. Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó. Bảo trì công trình là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong suốt quá trình khai thác sử dụng.
Nội dung bảo trì công trình có thể bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng, bảo 8 dưỡng và sửa chữa công trình. Theo luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12, công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác. Bảo trì công trình giao thông đường bộ là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình đường bộ theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác, sử dụng. Nội dung bảo trì công trình đường bộ có thể bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng, bảo dưỡng và sửa chữa công trình nhưng không bao gồm các hoạt động làm thay đổi công năng, quy mô công trình đường bộ (Bộ giao thông Vận tải, 2018).
b) Yêu cầu Bảo trì công trình giao thông đường bộ phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Công trình đường bộ từ khi đưa vào khai thác, sử dụng phải được quản lý và bảo trì theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, pháp luật về giao thông đường bộ và các quy định về quản lý, vận hành khai thác và bảo trì công trình đường bộ do Bộ GTVT ban hành. - Bảo trì công trình đường bộ phải thực hiện theo quy định của quy trình bảo trì, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo trì công trình đường bộ được cơ quan có thẩm quyền công bố áp dụng. Quy trình bảo trì công trình đường bộ được lập phù hợp với các bộ phận công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình, loại công trình (đường, cầu, hầm, bến phà, cầu phao và công trình khác), cấp công trình và mục đích sử dụng công trình. - Việc quản lý, vận hành khai thác, bảo trì công trình đường bộ phải đảm bảo duy trì tuổi thọ công trình, bảo đảm giao thông an toàn và thông suốt, an toàn cho người và tài sản, an toàn công trình, phòng, chống cháy nổ và bảo vệ môi trường (Bộ giao thông Vận tải, 2018).
Bảo trì các hạng mục công trình giao thông đường bộ phải được thực hiện theo 9 quy định theo từng loại công trình. c) Vai trò của bảo trì công trình giao thông đường bộ Để đảm bảo duy trì tuổi thọ, tránh sự xuống cấp sớm của công trình và thoả mãn nhu cầu của người tham gia giao thông đường bộ thì công tác bảo trì công trình giao thông đường bộ là nội dung hết sức quan trọng, mà lâu nay trong hoạt động xây dựng công trình giao thông đường bộ vẫn chưa chú trọng và có phần xem nhẹ. Tuổi thọ công trình được tính toán trên cả hai nội dung: tuổi thọ thiết kế và tuổi thọ thực tế của công trình, trong đó tuổi thọ thiết kế hay còn gọi là thời hạn sử dụng theo thiết kế của công trình giao thông đường bộ là khoảng thời gian công trình được dự kiến sử dụng, đảm bảo yêu cầu về an toàn và công năng. Thời hạn sử dụng theo thiết kế của công trình được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng, nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình và phải được quy định trong nhiệm vụ thiết kế.
Tuổi thọ thực tế (hời hạn sử dụng thực tế của công trình) là khoảng thời gian công trình được sử dụng thực tế kể từ khi đưa vào khai thác, đảm bảo các yêu cầu về an toàn và công năng.