Chương I, Điều 1 có viết: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo nào. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý,.v…) Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các nhà tu hành và các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi của người công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân. Các nhà tu hành là người ngoại quốc mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép, thì được giảng đạo như các nhà tu hành Việt Nam và phải tuân theo luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, như các ngoại kiều khác. Các tôn giáo được xuất bản và phát hành những kinh bổn, sách báo có tính chất tôn giáo, nhưng phải tuân theo luật pháp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc xuất bản. ============================================== Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC 11 ====================================================== Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình Các nhà thờ, đền, chùa, miếu, thánh thất và các đồ thờ, các trường giáo lý của tôn giáo được luật pháp bảo hộ Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật”.
Từ những nguyên tắc chung nói trên, Sắc lệnh số 234 đã quy định cụ thể đối với những hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của các tôn giáo; đối với ruộng đất của các tôn giáo; mối quan hệ giữa chính quyền nhân dân và các tôn giáo; trách nhiệm của chính quyền nhân dân đối với các hoạt động tôn giáo. Điều 14: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ Cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện”. Như vậy, các tín đồ tôn giáo và những nhà tu hành được hưởng mọi quyền lợi của công dân và phải thực hiện mọi nghĩa vụ công dân; được bầu cử và ứng cử theo quy định của pháp luật; các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý…); các nhà tu hành có nghĩa vụ giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng chính quyền dân chủ và pháp luật của nhà nước khi truyền bá tôn giáo.
============================================== Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC 12 ====================================================== Tổ chức tôn giáo được xuất bản và phát hành kinh bổn, sách báo có tính chất tôn giáo; được mở trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo; được mở các trường tư nhưng phải dạy theo chương trình của Chính phủ; được tổ chức các cuộc hành lễ theo thường lệ tại nơi thờ cúng và không phải xin phép; được hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội sau khi xin phép chính quyền, được chính quyền chuẩn y chương trình, điều lệ và được coi là tổ chức của tư nhân, được pháp luật bảo hộ. Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như mọi tổ chức khác của nhân dân. Những cơ sở tôn giáo như nhà thờ, đền, chùa, miếu, thánh đường, các đồ thờ, các trường giáo lý của tôn giáo được Nhà nước bảo hộ. Trong quan hệ với các nhà tu hành nước ngoài, pháp luật quy định các nhà tu hành người ngoại quốc được Chính phủ nước Việt Nam dân chủ công hòa cho phép thì được giảng đạo như các nhà tu hành Việt Nam và phải tuân theo pháp luật của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Các quy định này là sự khẳng định trước thế giới và đồng bào trong nước chính sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Điều đó thể hiện năng lực lãnh đạo nhạy bén và tài tình của Đảng ta trong việc đề ra quan điểm nhất quán về tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo, đảm bảo lợi ích cho đồng bào có đạo và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Trong giai đoạn này, quan điểm chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta là cơ sở tiền đề và công cụ quan trọng để thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, đưa công tác này thành một thể thống nhất từ Trung Ương đến địa phương. Thực hiện nhất quán quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này không chỉ là một trong những điều kiện tiên quyết góp phần tích cực vào việc xây dựng và ============================================== Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC 13 ====================================================== củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào có tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.
Đó là điểm mấu chốt góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này là: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Mặt khác, những quan điểm chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này đặt cơ sở nền tảng, là kim chỉ nam cho Đảng và Nhà nước định hướng đúng đắn đường lối chỉ đạo trong công tác và hoạt động tôn giáo để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn tiếp theo. Ngày 31/12/1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp 1959, trong đó nêu rõ: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (Điều 26, Chương III- Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1990 Đại thắng mùa xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.
Đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước bước vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội Chủ nghĩa. Ngày 28/02/1975, Dự thảo về đường lối, chính sách của Đảng đối với công tác ở miền Nam đã đưa ra nhận định có tính đúc kết về vấn đề tôn giáo trong cách mạng: “Vấn đề tôn giáo là vấn đề thuộc về sự khác nhau về tư tưởng (duy tâm hay duy vật) trong nhân dân, đồng thời lại là công cụ đấu tranh giai cấp tức là vấn đề thuộc về chính trị. Do đó, vấn đề vận động quần chúng tôn giáo là một vấn đề lâu dài, gay go và phức tạp”[24;6]. ============================================== Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC 14 ====================================================== Trong giai đoạn này các tôn giáo ở nước ta có những chuyển biến lớn.
Các tôn giáo lớn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm ủng hộ, công nhận về mặt pháp lý được tăng lên và được hoạt động một cách công khai, đúng pháp luật như Phật giáo; Công giáo; Tin Lành; Cao Đài, Hòa Hảo… Chính vì vậy, đồng bào các tôn giáo yên tâm, tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đồng bào các tôn giáo rất hăng hái tham gia phấn đấu vì mục tiêu chung của cả dân tộc: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ phần tử cực đoan, phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Trước bối cảnh đó, để khẳng định một lần nữa quan điểm nhất quán và chính sách nhân văn, bình đẳng, tự do đối với những người theo tôn giáo và các tổ chức, hoạt động tôn giáo, tạo lòng tin vững chắc đối với nhân dân theo tôn giáo.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) khẳng định: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, đồng thời cương quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo, làm hại đến lợi ích Tổ quốc, lợi ích nhân dân. Đó là cơ sở vững chắc cho sự hoạt động của các tôn giáo và công khai về chính sách tôn giáo của nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết 297/CP, ngày 11/11/1977 về một số chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta còn khẳng định những quy định đối với hoạt động của các tôn giáo thể hiện trong Sắc lệnh 234/SL (14/06/1955). Nghị quyết 297 nêu rõ năm nguyên tắc của chính sách tôn giáo là: “ Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân, - Các nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi và phải làm nghĩa vụ của người công dân, ============================================== Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC 15 ====================================================== - Các tôn giáo và mọi công dân theo đạo hoặc không theo đạo đều được bình đẳng trước pháp luật, - Các tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và chủ trương, chính sách, thể lệ của Nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình, - Những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại nền độc lập của Tổ quốc, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, chống lại chính sách và pháp luật của Nhà nước sẽ bị luật pháp nghiêm trị.” Từ năm nguyên tắc trên, Nghị quyết 297 quy định một số chính sách cụ thể về hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành, về việc đào tạo, bổ nhiệm, thuyên chuyển những người chuyên hoạt động tôn giáo… Đặc biệt, Nghị quyết 297 còn nêu rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc đảm bảo cho nhân dân thực hiện đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy, Nghị quyết 297 là sự tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các nội dung về công tác tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới.