đặt vấn đề nghiên cứu xem làm thế nào duy trì được mối liên kết giữa các bộ phận (các tiểu cơ cấu xã hội) khi mức độ phân hóa chức năng ngày một tăng lên trong xã hội. Comte đưa ra cách giải quyết nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước và yếu tố văn hóa, tinh thần xã hội. Vai trò của nhà nước: Comte cho rằng ngoài sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tập trung quyền lực vào tay nhà nước cho phép điều hòa, phối hợp và liên kết các bộ phận của hệ thống xã hội đảm bảo chống lại sức ép của sự phân hóa và phân rã xã hội. Vai trò của văn hóa, tinh thần: Ngoài hành động "vật chất" của nhà nước, yếu tố trí tuệ và đạo đức, thiện trí và thiện cảm của các thành viên xã hội, đóng vai trò là nhân tố duy trì sự liên kết, trật tự xã hội.
Động học xã hội là nghiên cứu các quy luật biến đổi xã hội trong các hệ thống xã hội theo thời gian. Comte đưa ra học thuyết về ba giai đoạn, với tư cách là một bộ phận của xã hội học, có liên hệ động thái xã hội đó là: 1. Hệ thống thần học, hay hư ảo; 2. Hệ thống siêu hình, hay trừu tượng; 3.
Hệ thống khoa học, hay thực chứng. Theo quy luật ba giai đoạn, mỗi giai đoạn trước là điều kiện phát triển của mỗi giai đoạn sau. Ví dụ, nếu không có hệ thống dòng họ thì khó có thể phát triển các hệ thống tiếp theo như hệ thống chính trị, luật pháp, quân đội và 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ thống xã hội công nghiệp hiện đại. Lịch sử tiến hóa xã hội diễn ra theo con đường tích lũy, tiến hóa (các tư tưởng mới, các hệ thống cơ cấu mới được xây dựng, được bổ sung vào cái cũ); ví dụ, trong xã hội hiện đại, dòng họ không mất đi, cũng như các tư tưởng thần bí, siêu tự nhiên không hoàn toàn bị biến mất.
Việc biến đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác không "trôi chảy, nhẹ nhàng", mà thường trải qua thời kỳ bất ổn định, mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới. Comte cho rằng, hệ thống văn hóa bao gồm đạo đức và tinh thần quy định sự phát triển của hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội. Dựa vào quy luật ba giai đoạn, Comte cho rằng việc "xã hội học" ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa là một tất yếu lịch sử; và xã hội học là khoa học đứng trên tất cả các khoa học khác. Xã hội học ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa - giai đoạn thực chứng và đó là khoa học phức tạp nhất, phải dựa trên nền tảng khoa học khác.
Vì ra đời muộn nên xã hội học ngay lập tức đã phải là một khoa học thực chứng và chiếm vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc các khoa học. Như vậy, Comte là người đầu tiên chỉ ra nhu cầu và bản chất của một khoa học về các quy luật tổ chức xã hội. Comte cho rằng bản chất của xã hội học là ở chỗ sử dụng các phương pháp khoa học để xây dựng lý thuyết và kiểm chứng giả thuyết. Quan điểm như vậy của Comte về chủ nghĩa thực chứng khác hẳn với quan niệm của một số nhà nghiên cứu thế kỷ XIX và thế kỷ XX.
Comte đã chỉ ra được các nhiệm vụ và vấn đề cơ bản của xã hội học. Xã hội học có nhiệm vụ phát hiện ra các quy luật, xây dựng lý thuyết, nghiên cứu cơ cấu xã hội (tĩnh học xã hội) và nghiên cứu quá trình xã hội (động học xã hội). Quan điểm của Comte về tĩnh học xã hội và động học xã hội là tiền đề cho Popper phân biệt hai khái niệm “xu thế” và “định luật”. Cũng từ quan điểm này ông phê phán Comte “Khi nói đến những định luật nối tiếp nhau, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Comte nghĩ đến những định luật về một loạt những hiện tượng “động lực học” xảy ra theo trình tự chúng ta quan sát được.
Thế nhưng điều quan trọng là phải nhận thấy rằng những định luật “động lực học” về sự nối tiếp nhau như Comte quan niệm là không hề tồn tại. Trong động lực học chắc chắn là không tìm thấy những định luật như thế” [30, tr. Popper phủ nhận những định luật mà theo Comte đó là nhiệm vụ của xã hội học, những “định luật” đó theo Popper chỉ là những “xu thế”. Đây cũng là điểm mấu chốt để Popper phê phán các nhà sử luận.
Hai là, tư tưởng triết học thực chứng của J.Mill là đại biểu của chủ nghĩa thực chứng xã hội học, đồng thời là nhà kinh tế học, nhà hoạt động xã hội người Anh. Mặc dù không làm việc tại Hàn lâm viện mà làm việc tại Công ty Osthindu, nhưng Mill vẫn luôn tích cực hoạt động khoa học, triết học và chính trị học từ những năm 40 của thế kỷ XX. Khoảng thời gian 1823 - 1858 Mill hoạt động kinh doanh, tranh thủ làm quen với các tác phẩm của Saint - Simon, nhưng không tán thành quan điểm của nhà cộng sản không tưởng này về quyết định luận xã hội trong hoạt động của con người. Ông luôn ủng hộ chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cải cách.
Mill tán thành rất nhiều quan điểm triết học và logic học của Comte, đặc biệt là quan niệm của Comte về tri thức khoa học và thái độ của ông ta đối với triết học, việc phân biệt giữa tĩnh thái và động thái xã hội, cũng như học thuyết “ba giai đoạn”, xem xét giai đoạn thực chứng như là trạng thái tối cao của xã hội loài người. Tuy nhiên, Mill lại bác bỏ học thuyết chính trị, xã hội của Comte hậu kỳ, phát hiện ở đó hiện thân của chủ nghĩa độc tài chính trị và tinh thần, xem nhẹ tự do và tính cá thể của con người. Mill cho rằng cần dành cho con người khoảng không tự do, thay vì quàng lên cổ nó một thứ định mệnh luận xã hội nhân tạo nào đó. Tư tưởng chống đối này được Mill trình bày trong “A.
Comte và chủ nghĩa thực chứng” (1865). 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các tác phẩm chính của Mill bao gồm hai tập “Hệ thống logic học” (1843); “Chủ nghĩa vị lợi”(1863) và “Nghiên cứu triết học của ngài W. Học thuyết về phương pháp luận khoa học của Mill bao gồm: Phương pháp quy nạp, logic học và học thuyết về tính nhân quả. Học thuyết về quy nạp được coi là lý thuyết cấu thành cơ sở của học thuyết về phương pháp luận của Mill.
Phép quy nạp của Mill thực chất là sự kế thừa và phát triển phương pháp quy nạp khoa học do F. Bacon xây dựng trong điều kiện khoa học thực nghiệm đương đại. Mill đã hoàn thiện các thủ thuật quy nạp của Bacon. Mill bắt đầu xem xét chúng như là các thủ thuật nghiên cứu chuyển biến các giả thuyết thành các định luật về quan hệ nhân quả.
Có năm phương pháp như vậy đó là: phương pháp giống nhau duy nhất; phương pháp khác biệt duy nhất; phương pháp hợp nhất sự giống nhau và sự khác biệt; phương pháp những phần còn lại; phương pháp những sự biến đổi đi liền nhau. Logic học của Mill chính là logic học nghiên cứu khoa học, trọng tâm của nó được đặt vào các thủ thuật quy nạp. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là loại bỏ các thủ thuật diễn dịch, ông chỉ phê phán sự đề cao thái quá phép diễn dịch và các mệnh đề duy lý, nhưng thừa nhận tác dụng của nó trong nhận thức khoa học. Mill nghiên cứu tỉ mỉ và đánh giá cao tam đoạn luận, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trình bày chính xác tri thức nhận được theo con đường quy nạp.
Song kết luận bằng tam đoạn luận không thể trở thành cái chủ yếu trong khoa học và do vậy chỉ có ý nghĩa kỹ thuật đối với nhà khoa học. Học thuyết về tính nhân quả, Mill xem xét tính nhân quả như là mối liên hệ tương đối ổn định giữa những cảm giác, như là tính tuần tự bền vững giữa những hiện tượng, như là cái đem lại khả năng tiên đoán những sự kiện tương lai. Năng lực tiên đoán như vậy, theo Mill cần được tính đến khi xây 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dựng logic học của các khoa học tinh thần. Nguyên nhân được xác định là tổng thể mọi hiện tượng (hay những điều kiện cần thiết của chúng) tồn tại trước một hiện tượng nào đó.
Như vậy, nguyên nhân là tổng thể hiện tượng trong thế giới. Căn cứ trên định hướng chủ quan của mình, chúng ta thường lựa chọn những hiện tượng tồn tại trước nào đó trong không gian và thời gian làm nguyên nhân cho một hiện tượng chúng ta chưa biết rõ. Nhưng theo Mill, khả năng tiên đoán hành vi của con người dựa trên tri thức về nguyên nhân không cản trở việc bộc lộ ý chí tự do. Quyết định luận cứng nhắc hoàn toàn không nảy sinh từ quan điểm của Mill về quan hệ nhân quả.
Tự do trong bối cảnh đó là năng lực tự quyết của ý chí con người. Những quan niệm của Mill, đặc biệt là học thuyết quy nạp và học thuyết về nhân quả đã có những ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper. Đặc biệt là sự ra đời của phương pháp diễn dịch – giả thuyết của Karl Popper có sự kế thừa ít nhiều dựa trên phương pháp quy nạp của Mill. Bởi vì Mill không hoàn toàn loại bỏ các thủ thuật diễn dịch, ông chỉ phê phán sự đề cao thái quá phép diễn dịch và các mệnh đề duy lý, nhưng thừa nhận tác dụng của nó trong nhận thức khoa học.
Việc kết hợp quá trình đưa ra giả thuyết với việc kiểm tra những hệ quả sinh ra từ nó bằng diễn dịch trong phương pháp luận của Mill cho phép chúng ta nói về việc ông nắm bắt trước được phương pháp diễn dịch tiên đề đặc trưng cho thế kỷ XX. Popper nói: “Phương pháp quy giản những phép khái quát hóa lịch sử hay những phép khái quát hóa loại khác thành một tập hợp những định luật mang tính khái quát cao hơn được Mill gọi là “phương pháp diễn dịch ngược” [30, tr. Ba là, tư tưởng triết học của các nhà Hậu thực chứng Thế kỷ XIX với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, dẫn đến những biến đổi to lớn trên nhiều mặt của đời sống xã hội, đặt ra nhiều vấn 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề cho nhận thức. Chủ nghĩa hậu thực chứng ra đời từ những năm 50 là một trào lưu cải cách trong lòng chủ nghĩa thực chứng mới.